Chỉ trong vòng 5 năm, hoạt động cho vay trực tuyến không qua ngân hàng, từ loại hình tín dụng phát triển nhờ vào công nghệ được các nhà đầu tư ưa chuộng đã trở thành lĩnh vực bị thất sủng, với không ít tai tiếng và sụp đổ.

Từ LendingClub ở Hoa Kỳ và Funding Circle ở Vương quốc Anh cho đến những công ty tương tự Dianrong, 51 Credit Card và Yirendai ở Trung Quốc, tất cả họ đều khiến những người từng đặt kỳ vọng vào tiềm năng của hoạt động P2P thất vọng. Những nhà vận hành các nền tảng này không liên tiếp bù lỗ thì cũng đối mặt với một cuộc khủng hoảng hiện sinh hoặc cả hai, theo bài viết của Joe Zhang đăng trên Nikkei Asia Review.

Ở Trung Quốc, nhiều người sáng lập các công ty cho vay ngang hàng (peer-to-peer hoặc viết tắt là P2P) đã bị bỏ tù và lĩnh vực này đang phải đối mặt với nhiều lệnh cấm ngày càng nhiều từ chính quyền địa phương.

Không khó để tìm được dữ liệu về những người đi vay “dưới chuẩn” (subprime borrower – những người được coi là có rủi ro tín dụng tương đối cao đối với người cho vay) buộc phải chuyển hướng sang vay từ công ty P2P, từ hoạt động của họ trên mạng xã hội và các trang thương mại điện tử và từ các câu trả lời đi vay từ các tổ chức truyền thống. Thế nhưng, trong khi khả năng trả nợ của người đi vay có thể được đo lường tương đối dễ dàng, thì khả năng sẵn lòng trả nợ của họ thì ngày càng khó để dự báo.

Về lý thuyết, người cho vay có thể dễ dàng thiết lập ấn định lãi suất phù hợp với mức độ rủi ro của mỗi người đi vay. Nhưng đây lại là vấn đề mà phần lớn các nền tảng cho vay P2P Trung Quốc gặp sự cố. Mức lãi suất cao hơn áp lên cho những người vay có rủi ro cao hơn thường đẩy họ vào tình trạng vỡ nợ.

Làm thế nào mà mọi thứ trở nên tồi tệ như vậy? Ngẫm lại, trong nhận thức muộn màng của các nhà đầu tư, các nền tảng trực tuyến đã được đánh giá quá cao về khả năng của chúng trong việc phân biệt người vay tốt với người vay xấu. Nói thẳng ra là, những lời đồn thổi về kết hợp hệ thống sử dụng trí tuệ nhân tạo này với thuật toán kia hóa ra chỉ là những hô hào rỗng tuếch.

Những nhà cho vay trực tuyến lẽ ra phải có hiệu quả hơn vì đây là những người chơi mới và có công nghệ cao. Nhưng điều đó phụ thuộc vào việc họ có đạt tới một quy mô nhất định hay không. Hầu như không có tổ chức cho vay trực tuyến nào ở bất kỳ nơi đâu có thể làm được điều đó. Một tiền đề khác của hoạt động cho vay P2P là bất kỳ khoản vay quá hạn sẽ không có nhiều tác động vì các khoản vay trực tuyến tương đối nhỏ và người đi vay sẽ được dàn trải về mặt địa lý, từ đó làm giảm rủi ro tập trung quá mức. Nhưng thay vào đó, việc thu hồi nợ tương đối tốn kém bởi vì quá trình theo đòi những người đi vay nhỏ những khoản vay quá hạn sẽ rất tốn công và cần nhiều người. Một số nền tảng P2P Trung Quốc đã sử dụng cách tiếp cận “chỉ đích danh và bêu xấu” để công khai gây áp lực buộc người vay phải trả nợ. Chiến thuật này đã phản tác dụng, với việc những người cho vay bị chỉ trích, chứ không phải người vay.

Joe Zhang, là Phó Chủ tịch của YX Asset Recovery, cho biết, ông đã chứng kiến sự khó khăn đến mức nào khi điều hành một doanh nghiệp thu hồi nợ ở Trung Quốc. Truyền thông cánh tả, những người đi vay chưa trả được nợ và gian lận khi vay nợ đã hợp nhất trong một chiến dịch để chống lại những tổ chức cho vay “nặng lãi” và những tổ chức thu hồi đòi nợ.

Theo Joe Zhang, xét về bản chất của các khoản vay dưới chuẩn (subprime loan), trong đó tỷ lệ vỡ nợ cao trong ngắn hạn, việc áp lãi suất cao hơn sẽ hợp lý. Để có một nền tảng hòa vốn với khoản cho vay 5.000 nhân dân tệ trong kỳ hạn 3 tháng, sẽ cần tới mức lãi suất 12 tháng lên đến 100%. Điều này có nghĩa người đi vay sẽ phải trả đến 1.250 nhân dân tệ tiền lãi, cùng với việc trả nợ gốc vào cuối kỳ hạn 3 tháng. Nhưng mức lãi này là quá cao đối với các nhóm người tiêu dùng và các quan chức chính phủ. Tòa án Nhân dân Tối cao trước đó đã áp dụng trần lãi suất hàng năm là 36%, vốn bắt đầu được thực thi nghiêm ngặt hơn trong khoảng thời gian gần đây. Đồng thời, phải thừa nhận rằng nhiều nền tảng P2P của Trung Quốc không hơn gì các âm mưu Ponzi vô đạo đức. Hầu hết những nền tảng Ponzi kiểu này rồi sẽ sụp đổ, đi cùng với đó là tiền mặt của nhà đầu tư và danh tiếng của cả ngành. Ngẫm lại thì hoạt động cho vay P2P có thể chứng tỏ nó là một mô hình kinh doanh không bền vững.

Tỷ lệ lỗ trên khoản vay cao và tỷ lệ nợ quá hạn thậm chí còn cao hơn khiến những nhà đầu tư – những người rót vốn vào các nền tảng P2P của Trung Quốc – không thể chịu đựng nổi. Để giữ cho các nhà tài trợ tham gia, hầu hết các nền tảng đã âm thầm xử lý các khoản lỗ cho vay với chi phí lớn nhưng các quy định gần đây đã cấm các hoạt động như vậy. Các chiến dịch pháp lý được thiết lập để buộc các nền tảng P2P đang còn hoạt động chuyển đổi thành tổ chức cho vay tín dụng vi mô được cấp phép trong vòng hai năm. Bản thân hoạt động P2P sẽ tự biến mất.

Nhiều nền tảng cho vay P2P ở Trung Quốc đã sụp đổ, Ezubao là một ví dụ điển hình. Nền tảng này đã đóng cửa sau khi huy động được hơn 50 tỷ nhân dân tệ Trung Quốc (7,6 tỷ USD) từ khoảng 900.000 nhà đầu tư. Đây được xem là một trong những vụ bê bối tài chính lớn nhất từ trước đến nay của Trung Quốc. Tổng giám đốc Yucheng Group là Zhang Min, một trong những người bị bắt giữ, thừa nhận Ezubao “chỉ là một trò lừa đảo mô hình Ponzi”. Chủ tịch của Yucheng là Ding Ming đã vung tiền lừa đảo từ tay các nhà đầu tư để sống xa hoa. Ding còn tặng Zhang một biệt thự ở Singapore trị giá 20 triệu đô la và một nhẫn kim cương hồng 1,8 triệu đô la, xe limousines và nhiều đồng hồ cùng hơn 83 triệu đô la tiền mặt.

Câu chuyện cho vay P2P cũng đã để lại cho hàng trăm triệu người vay cũng như những người tiết kiệm những bài học đáng giá về tài chính, đầu tư và tự bảo vệ bản thân. 

Nhưng sau những bê bối và sụp đổ ở trong nước, lạ thay, nhiều nhà khai thác công nghệ tài chính của Trung Quốc hiện đang xuất khẩu chuyên môn và thủ thuật của họ sang Đông Nam Á và các nước đang phát triển khác.

Theo Nikkei Asia Review,
Triệu Hằng dịch và biên tập