Chưa nói đến các trại tập trung Tân Cương, từ những cuộc biểu tình của phong trào “Phản tống Trung” ở Hồng Kông và gần đây là các cuộc biểu tình chống dạy Hán ngữ ở Nội Mông, có nhiều nhân sĩ đã phân tích, so sánh giữa Tập Cận Bình và thân phụ Tập Trọng Huân, về sự khác biệt trong cách xử lý các vấn đề chính trị là bất đồng to lớn, thậm chí có người cho rằng ông Tập đã hoàn toàn phản bội cha mình.

Chuyên gia Li Wen Long đã có bài phân tích trên Vision Times như sau:

Bố ra luật, con phá luật

Chính quyền Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) bắt đầu thúc đẩy mạnh mẽ chính sách phổ biến tiếng Trung, tất nhiên là tuân theo chỉ lệnh của đích thân Tập Cận Bình, đã gây ra sự phản kháng mạnh mẽ từ toàn dân tộc Mông Cổ trong tháng 8. Cho đến nay, giải thích công khai của Sở Giáo dục Khu tự trị Nội Mông là theo yêu cầu của Tập Cận Bình tại Hội nghị Công tác Dân tộc Trung ương ngày 28/9/2014: “Người thiểu số học tốt chữ quốc ngữ sẽ có lợi cho tìm việc làm, tiếp thu kiến ​​thức khoa học và văn hóa hiện đại, hòa nhập vào xã hội”, và chỉ thị tại Hội nghị tuyên dương đại đoàn kết toàn dân tộc ngày 27/9/2019: “Phải làm tốt công tác giáo dục ở các cấp học, các loại hình vùng dân tộc, tăng cường toàn diện giáo dục chữ quốc ngữ”.

Nhà bình luận Cao Tân cho biết trên đài Châu Á Tự do rằng, điều trớ trêu là “Luật Giáo dục Nghĩa vụ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” quy định cụ thể rằng “Các trường chủ yếu tuyển học sinh dân tộc thiểu số, có thể sử dụng ngôn ngữ mà dân tộc thiểu số thường dùng để giảng dạy”. Chính cha của Tập Cận Bình, ông Tập Trọng Huân, người phụ trách công tác dân tộc và lập pháp trong Bộ Chính trị vào giữa những năm 1980, là người chủ trì việc soạn thảo Luật Giáo dục Nghĩa vụ.

Đời trước là anh em thân thiết, đời sau gây nên gián cách?

Bố Tiểu Lâm, đương kim chủ tịch Nội Mông, đã đến Thông Liêu và Xích Phong để “điều tra và thúc đẩy việc sử dụng các tài liệu giảng dạy bằng tiếng Trung được biên soạn trên toàn quốc”. Nhưng trong mọi hoạt động của bà này được ghi lại, hoàn toàn tránh vấn đề nhạy cảm là “tăng cường giáo dục quốc ngữ”.

Cao Tân tin rằng, Bố Tiểu Lâm là truyền nhân của “Vua Mông Cổ”, trước thực tiễn việc áp đặt giảng dạy tiếng Trung hiện nay của Tập Cận Bình làm suy yếu vị thế của ngôn ngữ quốc gia, bà ta không dám phản ứng, đành phải “giả điếc”.

Bố Tiểu Lâm sinh ra trong một gia đình dân tộc Mông da đỏ, và ông nội của bà là Ô Lan Phu. Được biết đến với biệt danh “Vua Mông Cổ”, Ô Lan Phu là người nắm giữ quyền lực trên thực tế của đảng, chính phủ và quân đội Nội Mông kể từ khi ĐCSTQ được thành lập vào năm 1949. Ông cũng là chủ tịch chính quyền khu tự trị, bí thư thứ nhất thành ủy, chủ tịch Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc, chủ tịch Hội nghị hiệp thương chính trị nhân dân Trung Quốc, và Tư lệnh quân khu. Ô Lan Phu cũng có quân hàm đại tướng và đã từng là phó chủ tịch nước, phó chủ tịch Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc và phó chủ tịch Ủy ban quốc gia Hội nghị Hiệp thương. Cha của Bố Tiểu Lâm, Bố Hách, là con trai cả của Ô Lan Phu. Bà từng là chủ tịch khu tự trị Nội Mông trong 10 năm và sau đó là phó chủ tịch Ủy ban thường vụ ĐCSTQ.

Bài báo của Cao Tân đề cập chuyên gia Lý Húc Luyện của Cục Dịch thuật Quốc ngữ Trung Quốc, đã từng đăng một bài báo trên Nhật báo Quang Minh, rằng “Văn tự ngôn ngữ thông dụng quốc gia không phải là Quốc Ngữ”, nhấn mạnh rằng “trong công việc thực tế, chúng ta nên trao cho công dân quyền được lựa chọn học và sử dụng văn tự ngôn ngữ nào trong tầm tay họ, cho phép họ tự do lựa chọn sử dụng hoặc không sử dụng ngôn ngữ nào”. Cao Tân nói rằng trong tâm Bố Tiểu Lâm, người kế vị thế hệ thứ ba của “Vua Mông Cổ”, có lẽ đồng tình hơn là phản đối quan điểm này.

Cục Dịch thuật Quốc ngữ Trung Quốc được thành lập vào giữa năm 1955 bởi cha của Tập Cận Bình – Tập Trọng Huân – người sau đó là Tổng thư ký Quốc vụ viện.

Từ năm 2008 đến năm 2014, sự thăng tiến của Bố Tiểu Lâm có thể được mô tả như một sự bất thường, hoặc vì Tập Cận Bình và mối quan hệ đặc biệt của gia đình ông ta với gia đình “Vua Mông Cổ” Ô Lan Phu.

Một bài báo đăng trên các phương tiện truyền thông hải ngoại cho biết: “Mối quan hệ của Ô Lan Phu với cha của Tập Cận Bình ngày nay, ông Tập Trọng Huân, cũng có thể nói là anh em sắt son”.

Theo hồi ký của Trương Chí Công, thư ký của Tập Trọng Huân, mối quan hệ giữa Ô Lan Phu và Tập Trọng Huân chủ yếu được thiết lập vào những năm 1940, và sau đó mối quan hệ này càng trở nên khăng khít hơn. Từ những năm 1950 đến đầu những năm 1960, Bí thư Tập Trọng Huân sống tại số 6, chùa Hậu Viên Ân tại Hồ Đồng, Bắc Kinh, cách một bức tường, nơi Ô Lan Phu, lúc đó là Phó Thủ tướng Quốc vụ viện, sống.

Kinh qua cuộc khủng bố trong Cách mạng Văn hóa, hai gia đình đều bị bách hại. Có sự giao tiếp thân thiết giữa con cái họ và giúp đỡ lẫn nhau giữa hai người trước và sau khi họ đi tù trở về, thậm chí còn có tin đồn rằng con trai của Ô Lan Phu đã lấy con gái đỡ đầu của Tập Trọng Huân làm vợ, và mối quan hệ giữa gia đình Tập Trọng Huân và ‘vua’ Nội Mông thực sự rất khăng khít.

Bây giờ, nếu cả Ô Lan Phu và Tập Trọng Huân sống lại, họ sẽ cảm thấy thế nào về cái gọi là “người kế nhiệm cách mạng” của dòng họ, Tập Cận Bình đã tạo ra sự đối đầu giữa người Mông Cổ và người Hán?

Tuy nhiên, đã có những báo cáo cho rằng bản thân Ô Lan Phu là một tín đồ trung thành của Đảng Cộng sản Nam tiến (Hán hóa và Nga hóa), và không nói tiếng Mông Cổ. Dưới sự hướng dẫn của ĐCSTQ, ông đã dựa vào sức mạnh của ĐCSTQ để giải thể Phong trào dân tộc tự trị Nội Mông. Năm 1947, “Chính phủ tự trị Nội Mông” được thành lập với sự tham gia của Mao Trạch Đông. Mặc dù Ô Lan Phu là một quan chức ở cấp trung ương, người ủng hộ Liên Xô, nhưng cuối cùng đã bị Mao Trạch Đông ruồng bỏ một cách tàn nhẫn. Ô Lan Phu là một trong những quan chức cấp cao đầu tiên của ĐCSTQ bị phế truất trong Cách mạng Văn hóa.

Các nhà phân tích tin rằng, theo lịch sử chuyên chế của ĐCSTQ, dưới sự chi phối của đảng tính và cơ chế đào thải chốn quan trường, những quan chức này đối với chỉ thị từ cấp trên, căn bản đều chỉ hiểu đó như con đường cứng rắn để duy trì ổn định. Thạch Thái Phong, bí thư Khu ủy Nội Mông, đã trở thành ‘tiên phong diệt tộc’ của ĐCSTQ, giờ còn có Bố Tiểu Lâm, người tự coi mình là một thủ lĩnh Mông Cổ bản địa, đang xung phong lên tuyến đầu. Hãy xem bà ta sẽ tiêu diệt chính dân tộc của mình như thế nào?

Phiên bản Hồng Kông của Luật An ninh Quốc gia trái ngược với ý chí của Tập Trọng Huân

Luật An ninh Quốc gia phiên bản Hồng Kông được Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc ĐCSTQ nhất trí thông qua vào ngày 30/6 năm nay, và được Tập Cận Bình ký ban hành có hiệu lực ngay lập tức. Toàn bộ quá trình xem xét diễn ra chưa đầy hai tuần. Đạo luật này đánh dấu sự thay đổi chính sách hoàn toàn của ĐCSTQ đối với Hồng Kông bằng bất cứ giá nào. Đối với người dân Hồng Kông, luật này được gọi là “luật tà ác”. Khi cha Tập Cận Bình, ông Tập Trọng Huân làm việc ở Quảng Đông, phương pháp và phong cách xử lý công việc của Hồng Kông khá khác biệt.

Ông Tập Trọng Huân, là một trong những nhà lãnh đạo đầu tiên của ĐCSTQ và là người sáng lập chính của Khu Xô viết Thiểm Tây-Cam Túc, là một trong “tám cựu chiến binh của ĐCSTQ” dưới thời Đặng Tiểu Bình cầm quyền. Vào tháng 9/1962, tại Phiên họp toàn thể lần thứ mười của Ban Chấp hành Trung ương ĐCSTQ lần thứ tám, Tập Trọng Huân đã bị Khương Sinh hãm hại vì “vấn đề tiểu thuyết Lưu Chí Đan”, và bị đàn áp dã man trong Cách mạng Văn hóa. Ông bị kiểm duyệt và bị giam giữ trong ngục suốt 16 năm.

Trở lại sau Cách mạng Văn hóa, Tập Trọng Huân giữ chức bí thư thứ hai và bí thư thứ nhất Tỉnh ủy Quảng Đông từ năm 1978 đến năm 1980. Trong thời kỳ này, ông phải đối mặt với tình huống một số lượng lớn người đại lục vượt biên sang Hồng Kông.

Trên Đài tiếng nói Hoa Kỳ, Đường Chí Học, một học giả của Hiệp hội Quan hệ Đối ngoại Hoa Kỳ, cho biết ông Tập Trọng Huân từ chức vào năm 1962 và không có việc làm từ năm 1962 đến năm 1978. Ông đã đến Quảng Đông ngay khi tiếp tục công việc. Vừa đến Quảng Đông, ông nhận thấy vấn đề vượt biên rất nghiêm trọng. Ông đến Thâm Quyến vào tháng 6/1978 và nhận thấy có rất nhiều người chạy khỏi Trung Quốc đến Hồng Kông, đó là một cú sốc lớn đối với ông. Ông đến phố Trung Anh, con đường với một bên là Hồng Kông và một bên là Hoa lục. Ông thấy rằng Trung Quốc rất lạc hậu. Nhưng lúc đó ông vẫn tin vào chủ nghĩa xã hội và không hiểu tại sao người ta lại đi theo chủ nghĩa tư bản. Lúc đầu ông ấy không biết phải làm gì.

Tháng 6/1979, Ban Chấp hành Trung ương ĐCSTQ họp, Lý Tiền Niệm cũng chỉ trích Tập Trọng Huân và các lãnh đạo của Quảng Đông, nói rằng họ đã không làm tốt công việc của mình. Ông Tập Trọng Huân cũng đã tiến hành kiểm điểm và đưa ra 3 giải pháp: Thứ nhất là phát triển sản xuất, chữa bệnh tận gốc, dứt điểm để người dân sống tốt hơn; Thứ hai là giáo dục lòng yêu nước để người dân tin tưởng vào bốn hiện đại hóa của Trung Quốc; Thứ ba là bắt những “con cá lóc” (người Hoa lục chạy trốn) và làm tốt nhiệm vụ đánh chặn. Vốn dĩ cũng vì vấn đề vượt biên, Tập Trọng Huân cảm thấy những người này có thể tìm được việc làm thông qua đặc khu hành chính, nhưng để làm tốt đặc khu hành chính thì cũng cần đầu tư của người Hồng Kông. Vì vậy, tỷ phú Mã Vạn Kỳ và Lý Gia Thành đã gặp Tập Trọng Huân vào thời điểm đó.

Theo Đường Chí, Tập Trọng Huân hiểu người dân Hồng Kông nghĩ gì và họ cảm thấy thế nào sớm hơn các lãnh đạo cấp cao khác của ĐCSTQ. Hơn nữa, nhà lãnh đạo đầu tiên mà người Hồng Kông gặp khi bắt đầu cải cách và mở cửa là ông Tập Trọng Huân.

Ngày nay, Bắc Kinh của Tập Cận Bình không ngần ngại phá bỏ lời hứa “một quốc gia, hai chế độ” và làm sâu sắc thêm rạn nứt trong quan hệ với các nước lớn phương Tây như Mỹ, Anh nhằm siết chặt kiểm soát đối với Hồng Kông. Đây được coi là biểu hiện của phong cách lãnh đạo độc đoán của Tập Cận Bình.

Đường Chí nói rằng trong những năm 1980 và 1990, ĐCSTQ đã xem xét vấn đề Hồng Kông, và nó vẫn có ý kiến ​​rằng nếu vấn đề Hồng Kông có thể được xử lý tốt thì điều đó cũng sẽ làm yên lòng người Đài Loan. Nhưng bây giờ người dân Đài Loan có thể thấy rõ thái độ thật sự của ĐCSTQ đối với “một quốc gia, hai chế độ”. Ở một mức độ nào đó, đó chỉ là một thứ ngôn ngữ tráo trở.

Tại sao Tập Cận Bình và cha của ông ta hoàn toàn khác nhau trong việc xử lý Hồng Kông, cũng như thái độ với nhiều vấn đề khác, hoàn toàn bất đồng? Sướng Tiêu, một nhà bình luận các vấn đề thời sự ở Hồng Kông và là người viết chuyên mục bán chạy nhất, nói rằng các con gái của Stalin đều đã chạy đến Hoa Kỳ và chia tay với cha mình. Bản thân Tập Trọng Huân chưa bao giờ học đại học ở những nơi như Tây Bắc Thiểm Tây. Ông ta được sinh ra với một tính cách nhân ái hơn và một tính đảng yếu hơn.

Sướng Tiêu nói rằng nhìn thấy nhiều người từ Thâm Quyến vượt biên sang Hồng Kông, khía cạnh nhân tính của Tập Trọng Huân đã nổi lên. Hơn nữa, ông ta sinh ra cách đây hơn 100 năm, khi còn nhỏ, có thể là vào cuối thời nhà Thanh hoặc đầu Trung Hoa Dân Quốc, có thể ông đã chịu ảnh hưởng bởi một số tư tưởng Nho giáo trong những năm đầu của mình. Nhưng thế hệ lãnh đạo này ở Trung Quốc hiện nay hoàn toàn không còn tư duy như vậy.

(Bài viết chỉ thể hiện quan điểm của tác giả).

Theo Li Wenlong, Vision Times
Hương Thảo biên dịch