Trong một thời đại tranh giành thiên hạ, sẽ xuất hiện vô số hào kiệt, nhưng người nào mới là anh hùng thực sự, người nào có thể nhìn thấu quỹ đạo của lịch sử, để lại dấu ấn vẻ vang trong sử sách?

Những năm cuối thời kỳ Đông Hán chính là một thời đại tranh giành thiên hạ. Khi đó đế vương không có đức, các quan đại thần quấy rối triều chính, vương thân quốc thích chuyên quyền. Con cháu của dòng dõi đại quan là Viên Thiệu triệu tập mười tám chư hầu tụ họp cứu vua, nhưng các nước chư hầu thì lại có ý đồ riêng của mình, lấy binh quyền để củng cố bản thân. Từ đó anh hùng hào kiệt chiếm phần đông trong dân gian, đâu đâu cũng có anh hùng hào kiệt. Chiến loạn xảy ra liên miên, chư hầu các nước tự tranh quyền đoạt lợi, nhưng người chịu khổ lại là lê dân bá tánh.

Thế là Trung Nguyên lại một lần nữa hình thành cục hiện phân chia tan rã sau chiến tranh Hán – Sở, do Tào Tháo chiếm cứ Duyện Châu, Dự Châu; Viên Thiệu chiếm cứ Ký Châu, Thanh Châu, Tinh Châu và U Châu; Lưu Biểu chiếm cứ Kinh Châu, Tôn Sách chiếm cứ Giang Đông, cha con Lưu Yên, Lưu Chương chiếm cứ Ích Châu… Lưu Bị một lòng muốn phò trợ Hán thất đã lần lượt dựa dẫm Tào Tháo, Viên Thiệu, sau đó lại đến Kinh Châu đầu quân cho Lưu Biểu, cuối cùng vẫn không có căn cứ địa của mình. Lưu Bị vô cùng lo lắng, ông có một tấm lòng nhiệt huyết muốn cứu bá tánh nhưng lại không có cách nào để dựng công lập nghiệp.

Vậy là họ Lưu bèn đi khắp nơi tìm kiếm hiền tài, cuối cùng nghe nói ở Nam Dương có một kỳ nhân được gọi là Ngọa Long tiên sinh, là nhân tài phò tà đất nước giống như Trương Lương, Quản Trọng xưa kia. Lưu Bị thành tâm xin gặp, ba lần đến nhà tranh, cuối cùng có được một cuộc nói chuyện khai phá thiên cơ về “Long Trung đối sách”. Dưới sự tham mưu của Gia Cát Lượng, Lưu Bị tổng hợp lợi thế thiên thời, địa lợi, nhân hòa để nhìn rõ cục diện của thiên hạ, định ra kế hoạch chia ba thiên hạ.

Ngọa Long tiên sinh Gia Cát Lượng, tự Khổng Minh. Ông sống ở trong ngôi nhà tranh, mỗi ngày trồng ruộng, đọc sách. Tuy là không có mối quan hệ trong giới chính trị, không có gia tài giàu có, càng không có phương tiện thông tin tiện lợi như xã hội hiện đại, nhưng tại sao ông lại có thể phá được cục diện hỗn loạn của thiên hạ? Và tại sao cuối cùng ông lại có thể phò tá Lưu Bị xây dựng Thục Hán? Từ một câu nói nổi tiếng trong “Giới Tử Thư” (thư dạy con) của Gia Cát Lượng có lẽ chúng ta có thể tìm ra câu trả lời.

Trong “Giới Tử Thư” có nói: “Phi đạm bạc vô dĩ minh chí, phi ninh tĩnh vô dĩ trí viễn”. (Không đạm bạc không rõ chí hướng, không yên tĩnh không đi được xa). Đại ý qua câu nói này, Gia Cát Lượng muốn khuyên bảo con trai của mình rằng: Con phải thường xuyên từ bỏ dục vọng của mình để đạt đến tâm cảnh đạm bạc, đạm bạc ở đây nghĩa là xem nhẹ danh lợi. Lúc này con mới xác định được con đường mà mình muốn đi. Trong lúc làm việc cũng phải giữ được trạng thái tinh thần yên tĩnh, như vậy con mới có thể kiên trì đi được xa hơn.

“Đạm bạc minh chí, ninh tĩnh trí viễn” – xem nhẹ danh lợi mới có thể nhìn rõ được chí hướng. Giữ tâm thái tĩnh lặng bình yên thì con đường sự nghiệp mới có thể đi được xa hơn… đến nay vẫn là châm ngôn của rất nhiều người Á Đông. Gia Cát Lượng muốn nói với chúng ta rằng, muốn thành tựu một sự nghiệp lớn, đầu tiên phải xem người đó có chí hướng siêu phàm hay không.

Có một số người lập ra chí hướng, điểm xuất phát luôn là vì danh, vì lợi, vì quang tông diệu tổ, vì vinh hoa phú quý, như Viên Thiệu, Viên Thuật, Lưu Chương đều là những “tiểu nhân tầm thường” trong mắt Tào Tháo. Đối với Tào Tháo mà nói, bộ dạng của những kẻ chỉ biết giữ lấy phú quý và danh lợi của mình thật giống như một “con chó giữ nhà”. Người không chịu từ bỏ lợi ích riêng thì làm sao có thể thành tựu được sự nghiệp lớn? Ngoài ra ý chí ban đầu của một số người rất đáng kính phục, nhưng sau khi có một chút thành tựu nhỏ, liền vui mừng tự đắc, quên mất lý tưởng ban đầu của mình là gì, rồi chìm đắm trong niềm vui do danh lợi và phú quý mang đến, những người như vậy, trong lòng đã mất đi trạng thái bình yên tĩnh lặng, con đường mà họ đi vì thế cũng bị bỏ dở nửa chừng.

Trong “Trang Tử” có một câu nói là “kỳ thị dục thâm giả, kỳ vô cơ thiển”, ý nghĩa của câu này là: Khi một người có quá nhiều sở thích và tham vọng, anh ta thường bị ràng buộc bởi sự hưởng thụ của vật chất mà không thể nào đạt đến sự yên bình của nội tâm, khi trong lòng luôn rối loạn không yên thì làm sao có thể lĩnh ngộ được sự khai thị từ ông trời chứ? Và làm sao có thể đạt đến trình độ nhìn thấu thiên cơ như Khổng Minh, làm sao có thể thuận theo ý trời mà làm chứ?

Rất nhiều người cho rằng muốn có được thành tựu thì cần phải nhập thế trước, nhưng khi Gia Cát Lượng còn trẻ “Trồng ruộng ở Nam Dương, không cầu danh tiếng đến chư hầu”, trong cuộc sống xuất thế yên bình giản dị, trí tuệ và tài hoa của ông vẫn được mọi người tương truyền, danh tiếng của ông vẫn vang xa khắp nơi. Ông duy trì nguyên tắc “đạm bạc minh chí, ninh tĩnh trí viễn”, sau khi xuống núi làm quân sư cho Lưu Bị, tuy là lập được vô số công trạng, Gia Cát Lượng vẫn duy trì thái độ khiêm tốn cung kính, ẩn mình trên đường triều chính. Nhập thế thì trung nghĩa vẹn toàn, xuất thế thì nhìn thấu Thiên mệnh, cả đời ông không chút mong cầu mà lại có được tiếng thơm lưu truyền ngàn năm, được xem là nhân vật anh hùng đích thực trong lịch sử.

Theo Epochtimes
Châu Yến biên dịch