Sự đả kích từ vụ việc Ô đài thi án lần này đối với Tô Thức mà nói, thật ra cũng không phải quá nghiêm trọng, chẳng qua chỉ là bị nhốt hơn một trăm ngày, giáng chức giáng cấp mà thôi. Tuy nhiên vụ án oan lần này đã khiến triều đình mất đi một Tể tướng hiền minh, và thi đàn xuất iện một cao nhân tên tuổi ngàn năm bất hủ…

Lúc đó Tô Đông Pha chỉ mới hơn bốn mươi tuổi mà thôi, đang độ khỏe mạnh, lúc nào cũng muốn khuyên hoàng đế, hy vọng được triệu vào kinh thành, để triển khai hoài bão lớn, “giúp vua trở thành người như Nghiêu Thuấn”,  làm một thần tử tài giỏi trị quốc an dân. Tai họa ngục tù lần này đã giúp Tô Đông Pha mở rộng tầm mắt, giúp ông nhìn thấu sự hiểm ác của kẻ tiểu nhân, nhìn thấu sự đen tối của quan trường. Tô Đông Pha chưa từng so tài cao thấp với đám tiểu nhân đó, càng không muốn nhập bọn với họ. Vì vậy đã nảy sinh suy nghĩ rút khỏi quan trường chuyển sang làm một văn nhân thi sĩ. Sự thay đổi này làm mất đi một Tể tướng cứu thế trong xã hội hiện thực, nhưng hậu thế sau này lại có thêm một Đại thi nhân ngàn năm bất hủ.

Làm thi nhân cần phải ngây thơ, nếu không sẽ không viết ra được những trang thơ vĩ đại cảm động lòng người

Tính cách của con người có liên quan rất lớn đến nghề nghiệp mà anh ta làm. Làm quan thì cần phải khôn khéo sống theo thời, nếu không sẽ không thể đối phó với những rắc rối của con người và sự việc. Làm thi nhân thì cần phải ngây thơ trong sáng, nếu không sẽ không thể viết ra được những trang thơ vĩ đại chan chứa tình cảm chân thật, làm cảm động lòng người. Tô Thức là một người từ lúc nhỏ đến lúc già đều vô cùng ngây thơ. Ba người vợ mà ông gặp được trong cuộc đời mình đều là hồng nhan tri kỷ của ông, có thể giúp ông gánh vác những trọng trách trong gia đình, gìn giữ được sự ngây thơ của ông trong suốt thời gian dài, giúp ông có thể yên tâm sáng tác ra những văn chương nổi bật ngàn đời, tỏa sáng thiên thu.

Tô Đông Pha cả đời trắc trở, sau khi bị giáng chức thì cuộc sống của ông trở nên nghèo khó. Ông sống trong tình cảnh bần hàn cơ cực mà vẫn có thể chuyên tâm sáng tác, không chút bận tâm chuyện gia đình, hoàn toàn đều là nhờ vào sự ủng hộ của ba người vợ. Có thể nói, những tuyệt tác nổi tiếng lưu truyền ngàn đời của Tô Thức, không có tác phẩm nào là không bao gồm tâm huyết của ba người vợ này.

Người vợ đầu tiên của Tô Đông Pha là Vương Phất, bà là đồng hương của ông ở Tứ Xuyên, nhỏ hơn Tô Đông Pha ba tuổi, 16 tuổi xuất giá lấy chồng, 27 tuổi bị bệnh qua đời, bà chỉ ở bên cạnh Tô Thức 11 năm. Người vợ trẻ tuổi này của ông rất giỏi về quan sát sự biến hóa tâm lý của con người, lão luyện hơn Tô Đông Pha, vì vậy đã giúp được Tô Đông Pha rất nhiều. Trước khi chết bà còn kiên nhẫn để khuyên ông, những gì bà nói rất có hiểu biết, khiến Tô Đông Pha khắc cốt ghi tâm, suốt đời không quên. Sự ra đi quá sớm của bà khiến Tô Đông Pha vô cùng đau thương. Sau khi bà qua đời được mười năm, có một đêm, Tô Đông Pha nằm mơ thấy bà, lúc tỉnh dậy ông đã viết một bài “Giang Thành Tử”:

Thập niên sinh tử lưỡng mang mang, bất tư lượng, tự nan vong
Thiên lý cô phần, vô xứ thoại thê lương
Tùng sứ tương phùng ứng bất thức, trần mãn diện, mấn như sướng
Dạ lai u mộng hốt hoàn hương, tiểu hiên song, chính sơ trang
Tương cố vô ngôn, duy hữu lệ thiên hành
Liễu đắc niên niên đoạn tràng xứ, minh nguyệt dạ, đoạn tùng cương.

Tạm dịch nghĩa:

Mười năm sống chết cách biệt xa xăm, không nhớ đến, mà tự mình khó quên
Ngôi mộ cô đơn xa ngàn dặm, không nơi để nói lời thê lương
Cho dù gặp lại chắc không nhận ra, (vì nay ta) mặt đầy bụi, tóc bạc như sương
Nửa đêm bỗng nhiên mơ về quê, (nhìn thấy nàng) bên cửa sổ, đang chải chuốt
Nhìn nhau mà không biết nói gì, chỉ có trăm hàng lệ tuôn rơi
Ngờ rằng nơi kia đứt ruột mỗi năm, đêm trăng sáng, đồi thông nhỏ…

Người vợ thứ hai của Tô Thức tên là Vương Nhuận Chi, em họ của Vương Phất, do gia đình đông anh chị em, tính theo thứ tự gọi là nhị thập thất nương. Bà không thuộc tuýp người giống Vương Phất, Vương Phất là một phụ nữ tài hoa, còn bà thì lại là kiểu người hiền thê lương mẫu, là một người rất hiền thục, giỏi quản lý việc nhà. Trong 25 năm bà và Tô Thức sống bên cạnh nhau, không chỉ gặp phải tai họa từ Ô đài thi án, mà còn trải qua cuộc sống lưu đày vô cùng gian khó. Khi Tô Thức ở trong giai đoạn vô cùng thất thế, bà ra sức chống đỡ và duy trì gia đình nghèo khổ, để Tô Thức có thể một lòng tập trung vào việc sáng tác. Những tác phẩm có sức sống nhất và vĩ đại nhất trong cuộc đời Tô Thức ví dụ như: “Xích Bích Phú”, “Niệm Nô Kiều. Xích Bích Hoài Cổ” v..v.. đều được hoàn thành trong giai đoạn này. Năm 1086 CN, Tống Thần Tông qua đời, Tử Triết Tông kế vị, Tư Mã Quang chủ trương phản đối luật pháp mới được lên làm Tể tướng, Tô Đông Pha được trọng dụng trở lại, được điều đến Kinh Thành đảm nhận các chức vụ: Tri chế cáo kiêm thị độc, Hàn lâm học sĩ, Lễ bộ thượng thư, v.v… Đáng tiếc, khi ấy người vợ thứ hai này của ông cũng chỉ được sống những ngày tháng thoải mái trong vài năm ngắn ngủi, sau đó qua đời ở tuổi 46. Tô Đông Pha vô cùng đau lòng.

Ảnh minh họa: Miền cộng đồng.

Người vợ thứ ba của Tô Đông Pha là Vương Triều Vân, là người Hàng Châu. Năm bà 12 tuổi đã đến Tô gia làm thị nữ (người hầu), năm 18 tuổi trở thành Như phu nhân. Bà nhỏ hơn Tô Thức 27 tuổi, nhưng rất thông minh và hiểu sự đời từ rất sớm, bà rất thấu hiểu tâm trạng có tài không gặp thời và căm ghét thế tục tàn ác của Tô Đông Pha. Sau này, Tô Đông Pha vì phản đối chủ trương loại bỏ hoàn toàn luật mới của Tư Mã Quang mà bị đám tiểu nhân trong cựu đảng chèn ép, buộc ông phải ra khỏi Kinh Thành đi đến Hàng Châu làm Thái thú, trong lòng Tô Đông Pha luôn buồn bực không vui. Một ngày nọ, Tô Đông Pha vén áo lên cho mát, để lộ ra lớp bụng mỡ, ông hỏi người nhà bằng thái độ đùa vui: “Mọi người xem bên trong cái bụng to này của ta đựng thứ gì?”, có người nói là một bụng văn chương, có người nói là một bụng kinh luân, ông đều nói là không chính xác. Chỉ có Triều Vân vừa cười vừa nói rằng: “Tôi thấy trong bụng ông toàn những thứ không hợp thời!” Tô Thức vỗ bụng cười to, cảm thấy Triều Vân mới là người tri kỷ thấu hiểu ông nhất!

Năm 1094 CN, Tô Đông Pha đã gần 60 tuổi, mà vẫn bị tân đảng vừa mới lên giáng chức điều đến vùng đất hoang vu của khi ấy là Huệ Châu, Quảng Đông. Lúc này Vương Nhuận Chi đã qua đời, người hầu trong nhà đều không dám đi theo, chỉ có Triều Vân kiên quyết theo ông đi xuống phía nam, cùng ông đồng cam cộng khổ, sống chết bên nhau. Chỉ tiếc là bà không hợp với khí hậu ở đó, một năm sau, bị bệnh chết tại Huệ Châu, khi chết mới chỉ 34 tuổi. Tô Thức đau thương cùng cực, trong bài thơ truy điệu, ông ví bà là Tán hoa Thiên nữ (Thiên nữ rải hoa). Sau khi Triều Vân mất, Tô Thức lại bị lưu đày đến Đam Châu ở Hải Nam. Đợi đến khi triều đình ban lệnh đại ân xá, cho phép những người bị lưu đày được quay trở về đất liền, khi ấy ông đã 65 tuổi. Hai năm sau, ông qua đời tại Thường Châu, Giang Tô.

Đại trí giả ngu: Thành công tại Hoàng Châu, Huệ Châu, Đam Châu

Có một bước ngoặt rõ rệt nhất trong cuộc đời của Tô Thức, đó chính là Ô đài thi án. Trước đó, vị Tô học sĩ từng được hoàng đế ngợi khen là “thiên hạ kỳ tài” đã từng vô cùng tự tin, nhiều lần viết thư gửi lên triều đình, dâng hiến kế sách, hy vọng được trọng dụng, từ đó dễ dàng thể hiện được tài năng của bản thân, làm được một sự nghiệp lớn kinh thiên động địa. Nhưng sau Ô đài thi án, ông đã hoàn toàn tỉnh ngộ, biết được con đường thăng quan tiến chức rất gian nan hiểm ác, muốn lập công không hề dễ dàng. Hơn nữa nhận thức được bản thân quá ngây thơ, quá đơn giản, không thể đối phó lại những tranh đấu cực kỳ phức tạp trên quan trường. Ông thà không làm “quan nhân”, chỉ làm thi nhân, từ đó chỉ xem việc sáng tác văn học là sự nghiệp cả đời. Đây không phải là một suy nghĩ tiêu cực, mà là một lựa chọn sáng suốt. Về sau sự thật chứng minh rằng: Những người luôn dốc hết sức mình vào việc tranh giành trên quan trường, bất luận là tân đảng hay cựu đảng, bất luận là quân tử hay tiểu nhân, người nào người nấy cũng đều thân bại danh liệt, nhưng một thần tử bị lưu đày chỉ biết vùi đầu vào sáng tác văn chương thì lại viết ra được những bài văn bài thơ làm kinh động trời đất, lưu truyền ngàn đời. Cuộc đời của ông có được thành tựu to lớn hơn. Đối với sự nghiệp cả đời của Tô Thức mà nói, thay vì để người đời sau tùy tiện bình luận một cách sai lệch, chi bằng để ông “phu tử tự đạo”, hãy xem ông tự nói về mình như thế nào.
Trong những năm cuối đời, khi thiên hạ được ân xá, ông được  quay trở về đất liền, ông đã tổng kết sự nghiệp cả đời của mình một cách đơn giản nhất như sau:

Tâm dĩ kỷ khôi chi mộc
Thân như bất hệ chi chu
Vấn nhữ bình sinh công nghiệp
Hoàng Châu Huệ Châu Đam Châu

Tạm dịch nghĩa:

Tâm tựa cây đã thành tro
Thân như thuyền không buộc dây
Hỏi ta thành tích một đời
Hoàng Châu, Huệ Châu, Đam Châu.

Ông nói rõ: Công danh sự nghiệp của mình bắt đầu tính từ sau Ô đài thi án bị giáng chức xuống Hoàng Châu, điều ông muốn nói đến đương nhiên là sáng tác văn học chứ không phải làm quan. Địa danh Đông Pha nằm ở Hoàng Châu, biệt danh Đông Pha tiên sinh cũng là do ông tự gọi mình như vậy. Vùng đất Đông Pha này quả thật là một nơi rất thần kỳ. Trước khi Tô Đông Pha đi đến vùng đất này, ông là quan nhân Tô Thức, sau khi đến đây rồi, ông liền xoay người biến đổi, trở thành văn nhân nổi tiếng ngàn đời Tô Đông Pha. Những kẻ tiểu nhân muốn hãm hại ông muốn ép ông đi vào hang chết, dồn ông vào chỗ chết, không ngờ là sự dồn ép này, lại là “Sơn cùng thủy tận nghi vô lộ/ Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn” (Núi cùng nước tận ngờ hết lối/ Bóng liễu hoa tươi lại một làng), khi ông thoát ra được những nghịch cảnh cuộc đời, mọi thứ vẫn tươi sáng rạng rỡ, từ đó bước vào một vùng đất mới mênh mông bất tận trong sáng tác văn học.

Nơi mà Tô Đông Pha dựng công lập nghiệp không còn giới hạn bởi quan trường nhỏ bé đầy hiểm ác nữa, mà là đi vào trăm ngàn hộ gia đình, đi vào nhân gian rộng lớn, từ đó ông không còn quan tâm đến thị phi được mất của nhất thời nữa, bởi vì kiệt tác văn chương của ông sẽ xuyên việt thời gian, lưu truyền  đến ngàn đời sau. Tô Đông Pha đến từ thiên nhiên rộng lớn, bây giờ lại quay về với thiên nhiên rộng lớn, làm bạn với tôm cá hươu nai. Ông đến từ dân gian, bây giờ lại quay về với dân gian, làm hàng xóm với những người dân quê thôn dã. Vui thay!

Ảnh minh họa: Soundofhope.

Hoàng Châu tỉnh Hồ Bắc là trạm đầu tiên trong sự nghiệp cuộc đời của ông. Sau này Tô Đông Pha nói trong sáng tác “Thư Hàn Ngụy Công Hoàng Châu Thi Thoại” của mình: “Hoàng Châu sơn thủy thanh viễn, thổ phong hậu thiện, kỳ dân quả cầu nhi bất tranh, kỳ sĩ tĩnh nhi văn, bác nhi bất lậu. Tuy lậu hạng tiểu dân, tri tôn ái hiền giả”. (Hoàng Châu non nước yên bình tĩnh lặng, tình người sâu sắc, người dân nơi đây ít mong cầu mà lại không tranh giành với đời, những học sĩ nơi đây nhàn nhã nhưng tài hoa, chất phác nhưng không nông cạn. Tuy là người dân thôn quê, nhưng lại biết kính trọng và yêu quý bậc thánh hiền”. Khi sống tại nơi đây, Tô Đông Pha say mê cảnh đẹp trên sông và cảnh sắc núi non mênh mông bất tận của Hoàng Châu mà quên luôn việc quay trở về, lại “đỗ môn thâm cư, trì sinh hàn mặc” (đóng cửa ở ẩn, phát huy văn chương), giống như em trai ông là Tô Triệt từng nói “sự biến đổi về văn phong của huynh ấy, giống như dòng sông chảy xiết, mà Triệt chỉ biết kinh ngạc chứ không thể với tới được”. Niềm say mê sáng tác của Tô Thức cũng giống như sóng biển cuồn cuộn xô vào bờ, thật sự là có cản cũng cản không được, sau này những tác phẩm nổi tiếng lưu truyền ngàn đời, phần lớn đều được hoàn thành tại Hoàng Châu.

Huệ Châu tỉnh Quảng Đông là trạm thứ hai trong “sự nghiệp cuộc đời” của ông. Lúc đó Tô Đông Pha bị phái đi Lĩnh Nam xa xôi, gần như không còn hy vọng được quay về, đây vốn là một chuyện khiến người ta vô cùng đau lòng. Nhưng với sự chào đón nhiệt tình của bá tánh Huệ Châu, cùng với khí hậu ở Lĩnh Nam bốn mùa đều là đẹp, khiến ông vô cùng vui mừng. Trong “Tô Thức Truyện” của Tống Sử có nói khi ông ở Huệ Châu “ở ba năm, an nhiên không chút bất mãn, dù là Thánh hiền hay kẻ khờ, đều làm ông thấy vui vẻ”. Ông làm rất nhiều chuyện tốt cho vùng đất Huệ Châu, còn ngây thơ viết thơ nói rằng:

La Phù sơn hạ tứ thì xuân,
Lô quất, dương mai thứ đệ tân.
Nhật đạm lệ chi tam bách khoả,
Bất từ trường tác Lĩnh Nam nhân.

Tạm dịch nghĩa:

Dưới núi La Phù bốn mùa xuân
Nhót tây, thanh mai tươi mỗi ngày
Ngày ăn ba trăm quả vải ngọt
Không ngại mãi làm người Lĩnh Nam.

Đam Châu ở Hải Nam chính là trạm thứ ba trong “sự nghiệp cuộc đời” của Tô Đông Pha. Khi ông đến Hải Nam đã là một ông già rồi. Hoàn cảnh của Hải Nam khi ấy là “nơi đây ăn không có thịt, bệnh không có thuốc, ở không có nhà, ra ngoài không bạn bè, mùa đông không có than sưởi ấm, mùa hạ không có dòng suối mát, thật không dễ gì mà thích nghi”. Triều Vân đã qua đời tại Huệ Châu rồi, một mình ông cô độc đi đến vùng đất hoang vu này, không cần nói cũng biết tâm trạng lúc ấy của Tô Đông Pha là như thế nào. Nhưng ông lại không hề nản chí, ở Nam Hải ông cố gắng làm hai việc, một là sáng tác, hai là dạy học. Phần lớn trước tác học thuật của ông đều được hoàn thành tại Đam Châu, một lượng lớn thơ từ cũng được biên soạn thành từng quyển. Một thiên hạ kỳ tài như vậy có thể đi đến Hải Nam thu nhận học trò và giảng dạy, làm chấn động xa gần. Rất nhiều học sĩ đều đi đến đây để theo học Tô Đông Pha, chăm sóc cuộc sống cho ông, thân như con cháu. Tô Đông Pha sống ở Nam Hải ba năm, được ân xá cho quay về phía bắc, mà ông còn cảm thấy quyến luyến không nỡ, sáng tác bài thơ “Biệt Hải Nam Lê Dân”:

Ngã bổn Hải Nam nhân, ký sinh Tây Thục Châu
Hốt nhiên khóa hải khứ, thí như sự viễn du
Bình sinh sinh tử mộng, tam giả vô liệt ưu
Tri quân bất tái kiến, dục khứ thư thiếu lưu.

Tạm dịch nghĩa:

Ta vốn người Hải Nam, sống tạm nơi Tây Thục
Đột nhiên vượt qua biển, giống như du ngoạn xa
Cuộc đời và sống chết, ba cái không tốt xấu
Biết không gặp lại vua, muốn đi mà lưu luyến.

Tuy Tô Đông Pha bị đày đi đến tận chân trời góc biển, chịu đủ mọi gian nan, nhưng đi đến nơi đâu ông cũng đều dốc hết sức lực để làm chuyện tốt cho nơi đó, được bá tánh vô cùng yêu mến và tôn kính. Tô Đông Pha cũng xem Hoàng Châu, Huệ Châu, Đam Châu là quê hương của mình, xem bá tánh ở những nơi đó là người thân.

Bắt đầu từ năm 1993, tác giả bài viết này từng sống ở Hải Nam suốt 8 năm, bá tánh ở Hải Nam hoàn toàn không chút hứng thú gì với Hoàng đế hay Tể tướng, tướng lĩnh gì trong lịch sử, nhưng lại có thể tự hào vì mình có “Tô Đông Pha của chúng tôi”. Năm xưa Tô Đông Pha có thể có được sự yêu mến của bá tánh như vậy, sau khi chết mãi mãi được hưởng tiếng thơm, đây có lẽ là chuyện mà những kẻ tiểu nhân rắp tâm hãm hại ông cũng không bao giờ ngờ tới.

Lời kết:

Trong khoảng thời gian hơn 50 năm của giai đoạn giữa Bắc Tống từ Tống Nhân Tông thân chinh đến Tống Thần Tông bị bệnh qua đời, là một thời đại huy hoàng tỏa sáng nhất trong lịch sử Trung Quốc. Thời gian đó, giữa các hoàng đế có xuất hiện vài thành phần trí thức, họ biết xem trọng trí thức, và cùng thành phần trí thức bàn luận để tìm cách làm cho đất nước giàu mạnh, khi ấy là thời kỳ thịnh vượng khắp triều liên tục xuất hiện nhân tài và bậc quân tử, như Phạm Trọng Yêm, Âu Dương Tu, Bao Chửng, Tư Mã Quang, Vương An Thạch, Tô Thức… đều là những nhân vật kiệt xuất đại diện cho thời đại. Chỉ đáng tiếc là trong quá trình thay đổi luật pháp, thao tác chưa đúng cách, nên đã xảy ra sự chia rẽ trong tập thể các thành phần trí thức. Cuối cùng, vật hy sinh trong cuộc tranh chấp giữa tân đảng và cựu đảng, chính là sự ra đi của Tô Đông Pha, chính thức kết thúc thời đại quân tử. Từ đó về sau, Tống Hy Tông và đám tiểu nhân của Thái Kinh lên nắm quyền, tham tiền phóng túng, không chút kiêng dè, khiến cho tà ác hoành hành, nhân gian biến thành một thế giới của kẻ tiểu nhân, âu cũng là an bài của lịch sử vậy.

Theo Vision Times
Châu Yến biên dịch