Trong chương mở đầu của “Tam Quốc diễn nghĩa” đã nói rằng: “Thế lớn trong thiên hạ, cứ tan lâu rồi lại hợp, hợp lâu rồi lại tan”. Cái được diễn xuất trong vở kịch lịch sử ở giai đoạn Tam Quốc hợp tan này chính là một chữ “Nghĩa”, vì vậy, người thế gian hiểu ra được nội hàm của “nghĩa”.

Cái gì là nghĩa? Thật ra bản thân chữ “nghĩa” (義) phồn thể đã thể hiện được ý nghĩa của nó.

Ý nghĩa bên trong của chữ “Nghĩa” (義) phồn thể vô cùng phong phú

Trong “Thuyết Văn” nói: “Nghĩa, là uy nghi của bản thân”. “Nghĩa” là chữ hội ý (còn gọi là chữ tượng ý), gồm chữ “ngã” (我), chỉ cái tôi, bản thân, và chữ “dương” (羊) nghĩa là con dê dùng trong tế lễ. “Ngã” (我) cũng là chữ hội ý, có “qua” (戈), “qua” là binh khí, tượng trưng cho võ công uy nghi của đội quân hùng hậu, vì phải gánh vác rủi ro và trách nhiệm. Chữ tượng hình “dương” (羊) đại diện cho con vật hiến tế, tượng trưng cho tế phẩm trân quý trong buổi tế lễ trang nghiêm, hàm chứa tinh thần tự mình hy sinh. Chữ “nghĩa” bao gồm sự cương nghị dũng mãnh của vũ lực và tinh thần vô vị kỷ, hy sinh cho người khác. “Dương” ở trên, “ngã” ở dưới, phải biết rằng kẻ cầm vũ khí cần phải phù hợp với lễ nghi của đạo trời, thì mới có thể đại diện cho chân nghĩa, đại nghĩa.

Trong Tam Quốc có rất nhiều nhân vật anh hùng kiệt xuất, trong bài viết này chỉ nhắc đến ba anh em Lưu, Quan, Trương. Bắt đầu lập lời thề từ “kết nghĩa đào viên”, tức anh em đồng tâm, lấy thiên hạ làm trách nhiệm của mình, từ lúc không có chỗ đứng cho đến xây dựng đế quốc Thục Hán. Thân phận của ba anh em không giống nhau, chức trách khác nhau, nhưng chí đồng đạo hợp, cả ba người bổ sung cho nhau, hình thành mối quan hệ quân thần hợp tác lẫn nhau vô cùng chặt chẽ. Trong quá trình đó, mỗi người đều thể hiện được tinh thần đại nghĩa chung, đồng thời cũng phát huy được ý nghĩa khác nhau của “nghĩa” một cách cụ thể. Từ đó, tạo ra một thế giới nhân nghĩa lấy đạo nghĩa làm trên hết, dùng đức để phục nhân.

Nhân nghĩa của Lưu Bị

Lưu Bị là một người vô cùng nhân nghĩa. Mặc dù Lưu Bị là con cháu của Hán Cảnh Đế, sau hơn ba trăm năm, đã trở thành thân phận thường dân từ lâu. Lưu Bị có thể trỗi dậy thành danh, chủ yếu là vì Lưu Bị bẩm sinh đã nhiệt tình và thành khẩn với người khác, bất luận đối phương là người có thân phận như thế nào, Lưu Bị đều đối xử lễ nghĩa và tôn trọng. Đây là bản chất của Lưu Bị chứ không phải cố tình tỏ ra như vậy. Sức hút của sự đối đãi thành khẩn với người khác xuất phát từ nội tâm này của Lưu Bị từng khiến cho thích khách nhận lệnh đến ám sát Lưu Bị phải khuất phục, thản nhiên tự thú với Lưu Bị, bày tỏ lòng kính phục của mình đối với Lưu Bị.

Nói một cách khác, những người đi theo Lưu Bị đều là vì tính tình hợp nhau, được đối đãi thật lòng như bạn bè, cho nên họ mới một lòng trung thành đi theo Lưu Bị.

Lưu Bị (tranh được vẽ bởi Diêm Lập Bổn của nhà Đường, được lưu giữ tại Bảo Tàng Boston, Mỹ).

Lưu Bị đối đãi bá tánh cũng như đối đãi với người nhà của mình. Sau trận chiến Tân Dã, đội quân của Tào Tháo tấn công vào nơi ở của Lưu Bị tại Phàn Thành ngay trong ngày hôm đó. Lưu Bị rơi vào tình huống nguy hiểm ngàn cân treo sợi tóc. Gia Cát Lượng kiến nghị nên từ bỏ Phàn Thành, chạy đến Tương Dương tạm lánh nạn. Lúc này Lưu Bị nói rằng: “Bá tánh theo ta đã lâu, sao đành bỏ rơi?”

Mà bá tánh cũng đồng thanh hô lớn: “Chúng tôi cho dù có chết, cũng bằng lòng đi theo Lưu sứ quân!”. Bá tánh vừa khóc vừa vội vàng khởi hành, già trẻ lớn bé, phụ nữ trẻ em dìu dắt nhau vượt qua sông, tiếng khóc ở hai bên bờ sông vang vọng hồi lâu không dứt. Lưu Bị ngồi trên thuyền nhìn thấy, gào khóc lớn tiếng: “Vì một mình ta mà khiến bá tánh gặp đại nạn như vậy, ta làm sao sống nổi!”, nói xong liền muốn nhảy xuống sông tự tử, nhưng được các tướng sĩ bên cạnh kịp thời ngăn lại.

Thuyền đến bờ phía nam, Lưu Bị quay đầu nhìn bá tánh, nhìn thấy những bá tánh vẫn chưa vượt qua sông đang nhìn về bờ phía nam mà khóc lóc, Lưu Bị vội vàng ra lệnh cho Quan Vũ chèo thuyền đi đưa bá tánh qua sông, đợi tất cả mọi người đều qua được sông, Lưu Bị mới lên ngựa.

Tục ngữ nói: “Vợ chồng vốn là chim cùng một rừng, đại nạn ập đến mỗi người bay một nẻo”. Mặc dù đây là cách nói phiến diện, nhưng trong thực tế vẫn có rất nhiều cặp vợ chồng vì gặp nguy hiểm mà rời bỏ nhau. Thế mà vào lúc sinh tử tồn vong, Lưu Bị vẫn có thể nghĩ cho bá tánh như vậy, mang theo dân thường để hành quân vốn là đại kỵ của binh gia, nhưng Lưu Bị đều không quan tâm, có thể thấy được vị trí của bá tánh trong lòng Lưu Bị, nhân nghĩa của Lưu Bị không phải là tầm thường!

Nghĩa của Lưu Bị còn nằm ở niềm tin vững chắc đối với huynh đệ kết nghĩa. Sau khi ba anh em Lưu, Quan, Trương bị quân của Tào Tháo đánh tan rã, trong lúc chiến tranh hỗn loạn Lưu Bị một mình chạy đến Thanh Châu, được Viên Thiệu bảo vệ. Quan Vũ bảo vệ phu nhân (vợ) của Lưu Bị mà đi vào doanh trại của quân Tào. Sau đó Tào Tháo và Viên Thiệu giao chiến, Lưu Bị ở trong quân đội của Viên Thiệu lần đầu tiên nhìn thấy Quan Vũ ở doanh trại của Tào Tháo, suy nghĩ đầu tiên trong lòng Lưu Bị là: “Tạ ơn trời đất, thì ra đệ của ta quả nhiên ở chỗ Tào Tháo!”, hoàn toàn không nghi ngờ Quan Vũ sẽ thay lòng. Đây không phải là điều mà người bình thường có thể làm được, người thường ở trong tình huống này có ai lại không nghi ngờ chứ?

Ba lần đến lều tranh mời Gia Cát Lượng xuống núi cũng thể hiện được “nghĩa” của Lưu Bị. Lưu Bị hai lần đến lều tranh đều không gặp được Gia Cát Lượng, Lưu Bị chịu rất nhiều đả kích về tâm lý và hoàn cảnh, nhưng vẫn không một lời oán trách, mà khổ sở chờ đợi đến mùa xuân năm sau, chọn ngày lành tháng tốt, ăn chay ba ngày, tắm rửa thay trang phục chỉnh tề đến thăm lều tranh lần ba. Sự chân thành và tôn kính đối với Thánh hiền này có thể so sánh với Chu Văn Vương đi mời Khương Tử Nha.

Trung nghĩa của Quan Vũ

“Nghĩa” của Quan Vũ nằm ở lòng trung thành đối với người nhân nghĩa như Lưu Bị, và nằm ở lòng trung thành đối với anh em kết nghĩa đào viên, cái mà Quan Vũ trung thành chính là nhân nghĩa, thật ra đây chính là sự kiên định đối với đạo đức. Người đời sau nói “Quan Vũ nghĩa bác vân thiên” (“nghĩa bác vân thiên” là một câu thành ngữ nói về người cực kỳ có tình có nghĩa, có tinh thần chính nghĩa to lớn bay lên tận trời xanh).

Quan Vũ  (ảnh minh họa trong “Tam Quốc diễn nghĩa” thời nhà Thanh).

Quan Vũ bị bao vây nhưng vẫn kiên trì phòng thủ Hạ Bì, kết quả phòng thủ bất thành, rơi vào đường cùng, nhưng lại xem nhẹ cái chết, vẫn muốn quyết một trận sống chết với quân Tào. Trương Liêu trong doanh trại Tào Tháo đi đến thuyết phục Quan Vũ, nói rằng nếu Quan Vũ liều chết thì chính là phạm vào “ba tội”:

Tội thứ nhất, phản bội lại lời thề ước ngày xưa. Khi kết nghĩa, ba người Lưu, Quan, Trương thề cùng nhau sống chết, nếu hôm nay Quan Vũ tử trận, ngày sau khi Lưu Bị quay trở lại, nghe tin huynh đệ của mình đã chết, nên đi đâu về đâu?

Tội thứ hai, không hoàn thành trọng trách được giao phó. Nếu mất đi tính mạng, ai sẽ bảo vệ hai vị phu nhân của Lưu Bị?

Tội thứ ba, xem thường quốc gia đại nghĩa. Quan Vũ văn võ song toàn, lập chí trợ giúp Lưu Bị khôi phục Hán thất, nếu hôm nay bỏ mạng uổng phí, chẳng phải là cái dũng của kẻ tất phu sao? Phải đặt an nguy của thiên hạ vào đâu?

Trương Liêu lại đề xuất “ba tiện lợi” nếu hàng Tào: Một là bảo vệ tẩu phu nhân, hai là giữ được lời thề ước đào viên, ba là giữ thân được hữu dụng”.

Quan Vũ suy nghĩ một lúc, nói với Trương Liêu: “Huynh có ba phương tiện, ta có ba giao ước. Nếu Tào thừa tướng có thể làm theo, ta lập tức cởi giáp; nếu không đồng ý, ta thà gánh ba tội mà chết”.

“Thứ nhất, chỉ hàng nhà Hán, không hàng Tào thừa tướng; thứ hai, Tào thừa tướng cần phải dùng bổng lộc của hoàng thúc để phụng dưỡng hai vị phu nhân; thứ ba, một khi biết được tung tích của Lưu hoàng thúc ta lập tức rời đi”.

“Ba giao ước” của Quan Vũ từ đầu đến cuối đều là trung thành với Lưu Bị, Trương Phi và Hán thất, trước sau vẫn không quên lời thề ước ban đầu. Giả sử không có ba giao ước này mà đầu hàng, thì tức là phản bội rồi. Tào Tháo thương tiếc nhân tài, yêu thích Quan Vũ, cho rằng lòng trung nghĩa của Quan Vũ rất đáng quý, vì vậy đã đồng ý với yêu cầu của Quan Vũ. Ngoài ra, Tào Tháo đối với Quan Vũ “ba ngày một bữa tiệc nhỏ, năm ngày một bữa tiệc lớn”, “lên ngựa nhận vàng, xuống ngựa nhận bạc”, còn ban cho chức quan, tặng mỹ nhân hầu hạ. Quan Vũ đem tiền bạc và đồ dùng mà Tào Tháo ban tặng đến khu ở riêng của hai vị phu nhân cất giấu, kêu mỹ nhân đi hầu hạ hai vị phu nhân của Lưu Bị. Quan Vũ biết rằng Tào Tháo đối đãi với mình cực kỳ hậu ái, nhưng Quan Vũ ngay từ đầu đã cùng Lưu Bị “thề nguyện sống chết, không thể phản bội”. Vì vậy một khi biết được tung tích của Lưu Bị, Quan Vũ chắc chắn sẽ rời đi, nhưng Quan Vũ sẽ báo đáp ân tình của Tào Tháo xong rồi mới đi. Sau này, Quan Vũ giết đại tướng Nhan Lương của Viên Thiệu, Tào Tháo biết rõ Quan Vũ nhất định sẽ rời đi, nên càng ban thưởng hậu hĩnh hơn. Không lâu sau, Quan Vũ viết thư cho tướng phủ Tào Tháo, để quan ấn tại chỗ ở của mình, chỉ mang theo hai mươi mấy tùy tùng trước đây của mình bảo vệ hai vị phu nhân của Lưu Bị, ngàn dặm xa xôi chạy đến chỗ của Lưu Bị. Sau khi Quan Vũ đi rồi, thuộc hạ của Tào Tháo muốn đuổi theo Quan Vũ, nhưng Tào Tháo không đồng ý, Tào Tháo cho rằng “mỗi người theo một chủ, không cần đuổi theo”.

Lòng trung nghĩa của Quan Vũ còn thể hiện ở “có ơn phải báo”, “nói lời giữ lời”, “kiên định đến cùng”, “ngọc có thể nát nhưng không thể đổi màu”, “chết không khuất phục”, “xem nhẹ cái chết”.

Nghĩa của Trương Phi

Khi Trương Phi và Lưu Bị lần đầu gặp mặt, nói chuyện chưa được vài câu, Trương Phi đã quả quyết nói với Lưu Bị rằng: “Ta có chút tài sản, sẽ chiêu mộ dũng sĩ thôn làng, cùng ngài làm đại sự, thế nào?”. Trương Phi vì thảo phạt bọn cướp để an dân, mà không từ chối đạo nghĩa, đem tài sản cá nhân của mình ra cống hiến mà không chút do dự, tinh thần hào phóng và dứt khoát này của Trương Phi tạo thành sự tương phản rõ rệt so với những kẻ tiểu nhân thấy lợi liền quên nghĩa.

Trương Phi (ảnh minh họa trong “Tam Quốc diễn nghĩa” thời nhà Thanh).

Trương Phi đứng trên cầu Đương Dương hét lên một tiếng kinh thiên động địa: “Một tiếng thét giống như sấm vang, đánh lui trăm vạn binh nhà Tào”, sự uy dũng và trí tuệ này làm chấn động lòng người. Trương Phi tức giận dùng roi quất đánh tham quan, trừng trị kẻ ác, bảo vệ dân chúng, thả tự do cho Nghiêm Nhan, đối đãi tốt với lão tướng Hoàng Trung, tất cả đều thể hiện được sự dũng mạnh và nghĩa hiệp của Trương Phi.

Trong “Tam Quốc diễn nghĩa”, Trương Phi là một mãnh tướng thô lỗ. Mặc dù sau khi uống say rất dễ nổi nóng và thô lỗ với người khác, đây là một khuyết điểm lớn của Trương Phi, nhưng Trương Phi dũng mãnh và quả quyết, cũng được xem là hữu dũng hữu mưu, đây mới là đặc điểm chủ yếu của Trương Phi.

Thành ngữ “nghĩa bác vân thiên” không chỉ được dùng để định nghĩa về Quan Vũ mà cũng là dùng để định nghĩa về Lưu Bị và Trương Phi.

Nhưng đáng tiếc là sau khi Lưu Bị xây dựng nước Thục, Quan Vũ dần dần trở nên tự phụ, cao ngạo, không đủ khoan dung, kết quả bị trúng kế, thua trận chạy về Mạch Thành, bị Đông Ngô giết chết. Còn Lưu Bị và Trương Phi vì nóng lòng muốn trả thù cho huynh đệ của mình mà xử sự cảm tính, thiếu kiên định và chiến lược, dùng hết toàn bộ sức mạnh của nước Thục để tấn công Đông Ngô, kết quả không chỉ mất đi binh lực của nước Thục mà Trương Phi cũng mất luôn tính mạng.

Nếu như ba người họ có thể giữ được đại nghĩa “xem thiên hạ là nhiệm vụ của riêng mình” như lúc đầu, thì có lẽ kết cục đã không như vậy.

Con người không ai là hoàn hảo, tuy rằng hành vi của ba nghĩa sĩ Lưu Bị, Quan Vũ và Trương Phi vẫn có một số thiếu sót, nhưng họ đều là những người đã làm được rất tốt trong cuộc đời của mình, cả đời họ đều thực hành ý nghĩa của “đại nghĩa”, để lại câu chuyện đẹp ngàn năm “kết nghĩa đào viên” cho người đời sau, được người đời sau kính ngưỡng.

Có một tác giả nói rất hay: “So với giá trị lịch sử thì có lẽ diễn nghĩa sử dụng phương thức dẫn nhập tuyệt vời hơn, phóng to những phần tinh hoa nhất trong lịch sử năm xưa, mang đến sức mạnh rung động đến tận tâm can cho người đời sau”.

Theo Sound of Hope
Châu Yến biên dịch

Có thể bạn quan tâm:

videoinfo__video3.daikynguyen.tv||b4a369d49__

Ad will display in 09 seconds