Tư Mã Ý nghe nói Lưu Bị cho quân Thục dùng Mộc ngưu lưu mã vận chuyển lương thảo, ông liền sai binh lính đi cướp vài con về, đưa cho thợ thủ công mổ xẻ linh kiện ra, dựa vào kích thước làm ra hơn hai ngàn con. Nhưng có một điều mà Tư Mã Ý không biết, đó là cái lưỡi bên trong miệng của mộc lưu ngưu mã chính là một cơ quan…

Trung Nguyên thời xưa từng xuất hiện không ít những con trâu nổi tiếng. Có con là vật cưỡi của Tiên nhân, có con là pháp trận binh gia, có con là sản phẩm chế tác thủ công tuyệt xảo… Tuy rằng không phải con nào cũng là trâu thật, nhưng vì có liên quan đến “trâu” nên trở thành đề tài có sức hút mạnh mẽ trong năm Sửu…

1. Vật cưỡi của Lão Tử: Trâu xanh (thanh ngưu)

Theo như “Doãn Hỷ truyện” trong “Lịch thế chân tiên bổn đạo thông giám” ghi chép: Đại phu Doãn Hỷ rất giỏi quan sát thiên tượng, nhìn thấy phương đông có tử khí (đám mây màu tím) đi về hướng tây, ông liền biết rằng sắp có Thánh nhân đi qua quan ải để về hướng tây. Thế là Doãn Hỷ thỉnh cầu làm Hàm Cốc quan lệnh, ông nói với binh lính rằng: “Nếu như nhìn thấy người nào có dung mạo khác người, trang phục và vật cưỡi không giống người bình thường, nhất định phải cho người đó đi qua” (Lúc đầu Doãn Hỷ làm chức quan Đại phu, tức là cố vấn cho vua, nhưng vì nhìn thấy sắp có Thánh nhân đi qua Hàm Cốc quan để đi về phía tây, nên đã xin được làm Quan lệnh ở phía tây – tức quan viên trấn giữ biên giới phía tây).

Tháng 7 năm Chiêu Vương thứ 33, Lão Tử cưỡi trâu xanh đi đến Hàm Cốc quan, chuẩn bị qua quan ải để đi về hướng tây. Doãn Hỷ ăn mặc trịnh trọng nghiêm trang ra nghênh đón, quỳ lạy khấu đầu, tha thiết cầu xin Lão Tử ở lại. Vì Doãn Hỷ, Lão Tử cố tình ở lại Hàm Cốc quan hơn một trăm ngày, truyền cho ông phương pháp tu Đạo.

Ảnh: Wikipedia.

Từ các ghi chép trong Tiên truyện cho thấy, vật cưỡi của Lão Tử là trâu xanh. Trong “Phong Thần Diễn Nghĩa”, vì cơ nghiệp tám trăm năm của nhà Chu, Lão Tử cưỡi trâu xanh từ trên trời bay xuống, giúp nhà Chu chinh phạt nhà Trụ. Lão Tử cưỡi thanh ngưu phá được Hoàng Hà ác trận, Chu Tiên trận, Vạn Tiên trận. Bất luận là đối mặt với núi đao biển lửa, hay là bão giông sấm chớp, con trâu xanh này đều chưa từng chùn bước, và cũng không bị tổn thương một chút nào.

2. Gia Cát Lượng khéo làm trâu gỗ

Vào thời kỳ Tam Quốc, Gia Cát Lượng từng chế tạo ra mộc ngưu lưu mã, bất luận là trong chính sử hay là tiểu thuyết cổ điển đều có ghi chép. “Gia Cát Lượng truyện” trong Tam Quốc Chí có đoạn: “Lượng bẩm sinh giỏi suy nghĩ khéo léo, chế tạo nỏ liên hoàn, Mộc ngưu lưu mã, đều bắt nguồn từ ý tưởng của ông”.  “Tổ Xung chi truyện” trong “Nam Tề Thư” nói: “Vì Gia Cát Lượng có Mộc ngưu lưu mã, nên tạo ra một loại vũ khí, không cần mượn sức gió hay nước, lắp đặt cơ quan tự động vận chuyển, không tốn sức người”. Trong “Hậu chủ truyện” và “Thục chí bổn truyện” của Tam Quốc Chí đều có ghi chép liên quan đến Mộc ngưu lưu mã. Từ ghi chép trong chính sử cho thấy, Gia Cát Lượng thực sự là đã chế tạo ra Mộc ngưu lưu mã, nhưng cụ thể chế tạo như thế nào thì không thấy ghi trong sử truyện.

Tiểu thuyết cổ điển “Tam Quốc Diễn Nghĩa” chương 102 có nói đến Gia Cát Lượng vì muốn bắt được Tư Mã Ý, đầu tiên phái hơn một ngàn thợ thủ công đi đến Hồ Lô Cốc, chế tạo Mộc ngưu và lưu mã. Đàn Mộc ngưu lưu mã này, đi một mình có thể đi được mấy chục dặm, đi một đàn có thể đi được 30 dặm. Chúng có thể vận chuyển lương thảo cả ngày lẫn đêm mà lại không cần ăn uống.

Tư Mã Ý nghe nói Lưu Bị cho quân Thục dùng Mộc ngưu lưu mã vận chuyển lương thảo, ông liền sai binh lính đi cướp vài con về, đưa cho thợ thủ công mổ xẻ linh kiện ra, dựa vào kích thước làm ra hơn hai ngàn con. Nhưng có một điều mà Tư Mã Ý không biết, đó là cái lưỡi bên trong miệng của mộc lưu ngưu mã chính là một cơ quan. Sau đó hai bên giao chiến, Vương Bình làm theo lời căn dặn của Gia Cát Lượng, sau khi vặn lưỡi của mộc ngưu lưu mã, toàn bộ chúng đều đứng im không di chuyển nữa. Cuối cùng Ngụy quân của Tư Mã Ý bại trận tại Bắc Nguyên.

Những con Mộc ngưu lưu mã này không cần dùng bất cứ năng lượng nào cả, hơn nữa lại rất cơ động. Đánh giá theo phương diện văn hóa, Mộc ngưu phối hợp với lưu mã có thể được xem là chiếm trọn phong cách Thần thoại.

3. Trấn thủy ngưu

Theo như “Tạo hóa quyền dư” nói: “Can dương là ngựa, khôn âm là trâu, nên móng ngựa tròn, móng trâu chẻ đôi”. Trung Quốc thời xưa lấy ngựa tượng trưng cho càn dương, lấy trâu tượng trưng cho khôn âm. Vì vậy khi ngựa bị bệnh thì sẽ nằm xuống, là vì âm khí chiến thắng dương khí; ngược lại trâu bị bệnh thì sẽ đứng thẳng, là vì dương khí thắng được âm khí. Con ngựa khi đứng dậy sẽ đưa chân trước ra trước, khi nằm sẽ đưa chân sau ra trước, thuận theo càn dương. Con trâu đứng dậy sẽ đưa chân sau ra trước, khi nằm sẽ đưa chân trước ra trước, thuận theo khôn âm. Vì vậy móng guốc của con ngựa móng tròn, móng guốc của con trâu là móng chẻ.

Trâu tượng trưng khôn âm, thuộc thổ trong ngũ hành, thổ có thể khắc thủy. Truyền thuyết dân gian nói rằng, con thuồng luồng gây ra lũ lụt sợ sắt thép, vì vậy vào thời xa xưa, người Trung Quốc thường hay đúc trâu sắt để trấn thủy. Theo như “Trùng tu An Hy thông chí” (ấn bản của những năm Quang Tự) ghi chép, vào thời kỳ nhà Hán, An Huy có thiết quan “đúc sắt làm trâu để trấn nơi này. Bên sông Phủ Chí nhiều thủy quái, lúc đầu xây thành luyện sắt trấn giữ”.

Bởi vì khi đó thường xuyên xảy ra lũ lụt, vì để trấn phục thủy quái, quan phủ đúc ra năm con trâu sắt, đặt ở các địa điểm khác nhau bên trong thành, trâu sắt được chôn ở dưới lòng đất, chỉ để lộ một chút ít phần lưng. Khi đó còn có người nghe thấy tiếng hít thở của trâu sắt, mọi người đều vô cùng kinh ngạc, nên gọi những con trâu sắt này là “Thiết ngưu đại tướng quân”.

Theo thời gian, trâu sắt không nhất định phải chôn ở dưới lòng đất, cũng không đặt ở bờ đê. Hồ Côn Minh trong Di Hòa Viên, Bắc Kinh đến nay vẫn còn có một tượng trâu bằng đồng, được đúc vào năm Càn Long thứ 20 (năm 1755), trên lưng trâu còn đúc dòng kim văn bốn chữ của vua Càn Long.

 Tượng trâu bằng đồng trong Cung điện Mùa hè, Bắc Kinh (Ảnh: Shutterstock).

4. Trận pháp của Điền Đan nước Tề: Hỏa ngưu (trâu lửa)

Hỏa ngưu là một trận pháp do Điền Đan của nước Tề phát minh ra. Điền Đan là họ hàng xa của vua nước Tề, sau khi Mặc Thủ Thành đại phu chết, mọi người tiến cử ông lên làm tướng quân. Dưới sự thống lĩnh của Điền Đan, tinh thần của binh sĩ vô cùng phấn chấn.

Điền Đan chọn ra hơn một ngàn con trâu, rồi khoác một tấm vải lụa đỏ lên trên người của chúng, còn vẽ những hoa văn nhiều màu sắc sặc sỡ. Sau đó buộc hai con dao nhọn vào sừng trâu, và cột một bó lau sậy tẩm mỡ vào đuôi con trâu. Điền Đan ra lệnh cho binh lính đục mười mấy chỗ ở tường thành, đuổi đàn trâu ra ngoài thành trong đêm, năm ngàn tráng sĩ đi theo phía sau chúng. Khi đuôi trâu bị đốt cháy, đàn trâu hoảng sợ chạy tán loạn, lao thẳng về phía quân Yên. Năm ngàn tráng sĩ của quân Tề đi theo đàn trâu, đánh lén quân Yên. Bá tánh bên trong thành thì cầm những món đồ kim loại gõ lên ầm ĩ, trong khoảnh khắc đó, tiếng kêu la chém giết của quân Tề kinh thiên động địa. Quân Yên hoảng sợ, thua trận bỏ chạy.

Nhờ có trận hỏa ngưu mà quân Tề phản bại thành thắng, phản thủ thành công. Quân Tề thừa thắng đuổi theo, tướng sĩ và bá tánh tại những vùng lãnh thổ của nước Tề bị nước Yên chiếm lĩnh đồng loạt hưởng ứng đối kháng quân Yên, nghênh đón sự xuất hiện của Điền Đan. Chưa đầy vài tháng, nước Tề đã lấy lại được hơn 70 thành trì bị nước Yên chiếm giữ.

Trong những câu chuyện này, bất luận là vật cưỡi trâu xanh của Tiên gia, trâu sắt dùng để hàng yêu trấn thủy, hay là Mộc ngưu (trâu gỗ) và Hỏa ngưu (trâu lửa) của các nhà binh pháp, tất cả đều để lại được những màu sắc đậm nét Thần thoại trong văn hóa của Trung Nguyên xưa. Những con trâu nổi tiếng này đều thể hiện được nội hàm văn hóa truyền thống vô cùng độc đáo và mới lạ, mỗi con dẫn đầu một lĩnh vực khác nhau và trở nên nổi tiếng suốt hàng ngàn năm nay.

Theo Epoch Times
Châu Yến biên dịch

Xem thêm:

videoinfo__video3.daikynguyen.tv||b4a369d49__

Ad will display in 09 seconds