Xuyên suốt cuộc đời Mạnh Tử là những chuyến đi xa và thu nhận học trò, phong trần bụi bặm, đặt chân khắp thiên hạ, đem quan niệm chính trị về nhân chính và vương đạo truyền lại cho thế gian. May mắn lớn nhất của ông là sống trong Tắc Hạ học cung vào giai đoạn hưng thịnh nhất…

Tắc Hạ học cung nằm ở ngoại thành kinh đô Lâm Tri của nước Tề, thành lập hơn 30 năm và trải qua ba đời quân vương, từ lâu đã trở thành sân khấu chính tề tựu các nhân tài kiệt xuất trong thiên hạ, là nơi bách gia tranh minh. Một cường quốc ở phía đông như nước Tề cũng bỗng chốc trở thành trung tâm học thuật. Lúc này, các danh sĩ ở các nước đều lũ lượt kéo đến đây để tìm hiểu phong thái của học cung, thậm chí còn tham gia vào triều đình với tư cách là một học viên của Tắc Hạ học cung, quảng bá học thuyết và chủ trương chính trị của mình cho vua và các đại thần của nước Tề.

Vào thời kỳ hoàng kim của Tắc Hạ học cung, một hôm bên ngoài thành Lâm Tri lại có thêm một đội xe ngựa đang ung dung đi về phía Tắc Hạ học cung. Chỉ nhìn thấy có một vị trưởng lão thần thái phi phàm đang ngồi bên trong chiếc xe ngựa dẫn đầu, phía sau có mấy chục chiếc xe ngựa và mấy trăm người đi cùng. Bậc lão niên có khí thế hoàng tráng như vậy chính là Mạnh Tử, một bậc thầy Nho giáo kế thừa tư tưởng nhân nghĩa.

Đây là lần thứ hai Mạnh Tử du ngoạn nước Tề, cách lần đầu tiên ông vào Tề quốc đã mười mấy năm qua đi rồi. Đối với đất nước vừa quen thuộc lại vừa xa lạ này, có lẽ Mạnh Tử có vô vàn cảm thán, nhưng từ đầu đến cuối ông đều kiên định với nguyện vọng ban đầu là chấn hưng Nho giáo, thực hiện chính trị nhân nghĩa.

Lần đầu vào Tề, Mạnh Tử chưa thể hoàn thành chí lớn

Mạnh Tử, tên Kha, người nước Chu (một nước chư hầu của nhà Chu trong thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc, còn gọi là nước Trâu hay nước Chu Lâu), tổ tiên là quý tộc nước Lỗ. Ông là nhân vật đại diện cho Nho giáo trong thời kỳ Chiến Quốc. Trong sử sách không có ghi chép chính xác về quá trình học tập của ông thời trẻ cũng như việc ông được truyền thụ kiến thức từ vị thầy nào. “Sử Ký” chỉ nói ông “học tập từ môn nhân của Tử Tư”, Tử Tư tức Khổng Cấp, cháu của Khổng Tử và là đệ tử của Tăng Tử. Nhưng bản thân Mạnh Tử lại nói: “Ta chưa được làm học trò của Khổng Tử, ta tự mình học của nhiều người”. Chúng ta có thể suy đoán đại khái rằng Mạnh Tử ngưỡng mộ học vấn của Khổng Tử, ông học hỏi của nhiều người và cuối cùng trở thành người thừa kế của trường phái Nho giáo.

Hình vẽ minh họa Mạnh Tử trong album “Half Portrait of the Great Sage and Virtuous Men of Old”, đặt ở Bảo tàng Cố cung Quốc gia.

Từ giữa thời kỳ Chiến Quốc trở đi, chư hầu tranh bá, chiến tranh và những vở kịch thôn tính không ngừng được trình diễn, vô số học thuyết của các trường phái cùng nhau xuất hiện, chính tà khó phân biệt, các quan niệm về luân lý và đạo đức bị một đòn tấn công mạnh. Trong cuốn “Mạnh Tử” có miêu tả về thời kỳ này như sau: “Thánh vương bất tác, chư hầu phóng tứ, xử sĩ hoành nghị”, câu này miêu tả tình trạng rối ren trong giai đoạn này: sẽ không còn một bậc đế vương nào có đủ tài đức, chư hầu thì phóng túng tùy tiện, những văn nhân học sĩ chưa từng làm quan cũng tùy ý phát biểu ngôn luận. Nho giáo trong giai đoạn này đang rơi vào tình trạng “chính đồ tắc nghẽn, nhân nghĩa hoang phế” của quá trình suy thoái (chính đồ nghĩa là con đường làm quan thông qua thi cử). Với tư cách là truyền nhân của Nho giáo, bằng khí thế chính trực lớn mạnh trong lòng, Mạnh Tử đã dốc sức gánh vác sứ mệnh chấn hưng Nho giáo.

Xuyên suốt cuộc đời Mạnh Tử là những chuyến đi xa và thu nhận học trò, phong trần bụi bặm, đặt chân khắp thiên hạ, đem quan niệm chính trị về nhân chính và vương đạo truyền lại cho thế gian. May mắn lớn nhất của ông là sống trong Tắc Hạ học cung vào giai đoạn hưng thịnh nhất, đất nước hậu đãi hiền tài và học cung tập hợp các nhân tài trong thiên hạ chính là một trạm dừng chân quan trọng nhất mà Mạnh Tử không thể bỏ qua.

Khi Tề Uy Vương còn tại vị, ông chiêu nạp nhân tài rộng rãi, ra sức chấn hưng nước Tề. Mạnh Tử ôm chí lớn trong lòng lần đầu tiên đặt chân lên lãnh thổ nước Tề, ông hy vọng thông qua cường quốc cùng với minh quân để thúc đẩy chủ trương chính trị nhân nghĩa. Bởi vì bản thân Mạnh Tử có học thức uyên bác, cộng thêm chính sách dùng người vô cùng thoáng của nước Tề, nên ông nhanh chóng trở thành tiên sinh trong Tắc Hạ học cung một cách thuận lợi. Tuy nhiên vào thời điểm đó, Mạnh Tử chỉ là một học giả rất bình thường trong nước Tề.

Mặc dù Tắc Hạ học cung khích lệ các trường phái tư tưởng trao đổi và biện luận học thuyết qua lại, nhưng trong thời kỳ đầu thịnh hành nhất vẫn là tư tưởng Hoàng Lão. Điều này chủ yếu là bởi vì tổ tiên Điền Tề là từ nước Trần vào nước Tề, ông tổ của trường phái Đạo gia tức Lão Tử cũng là người nước Trần. Đồng thời Điền Thị xem Hoàng Đế là tổ tiên của mình, tất nhiên sẽ tôn sùng tư tưởng Hoàng Lão. Vì vậy mà tư tưởng Nho học của Mạnh Tử ở Tắc Hạ học cung mặc dù được tôn kính nhưng học thuyết và chính kiến của Nho giáo vẫn chưa được quốc vương xem trọng.

Mạnh Tử từng miêu tả hoàn cảnh của mình như thế này: “Ta từng nghe nói, người có chức quan, nếu không thể làm tròn chức trách của mình thì nên từ quan không làm; người có trách nhiệm khuyên vua, nếu như nói không nghe, kế hoạch không làm theo, thì nên từ chức không làm. Còn về ta, vừa không có chức quan, vừa không có trách nhiệm khuyên vua, vậy thì ta đi hay ở, chẳng phải là vô cùng thoải mái mà lại có thể tự do quyết định hay sao?”.

Mạnh Tử không làm quan, những lời khuyên của ông cũng không được Tề vương tiếp nhận, ông ở nước Tề giống như một người không chút quan trọng, bất cứ lúc nào cũng có thể ung dung ra đi. Trên thực tế, Mạnh Tử không thể dứt khoát được như vậy, mà ông ở lại nước Tề suốt mười mấy năm. Tuy rằng ông không đạt được nguyện vọng nhưng cũng không dễ dàng bỏ cuộc, nếu như ông Trời sắp giao phó trách nhiệm to lớn cho người như vậy, thì ông phải dũng cảm đón nhận muôn vàn khó khăn, chờ đợi thời cơ tốt nhất. Vì vậy, Mạnh Tử đã dùng hết khả năng của mình để có thể phát huy tầm ảnh hưởng tới chính trị nước Tề. Ví dụ, ông khuyên Đại phu Chi Oa kiến nghị ý kiến với Tề Uy Vương, Tề Uy Vương không nghe, Chi Oa từ chức ra đi; ông lại kết giao với Khuông Chương, làm thay đổi ấn tướng của Tề vương đối với sự bất hiếu của Khuông Chương, sau đó Uông Chương được phong làm tướng quân, lập được công trạng.

Về sau hoàn cảnh của Mạnh Tử gần như có chuyển biến tốt, ông dần dần được Tề Uy Vương xem trọng, nhận được đãi ngộ Khách khanh (tên một chức quan). Khi ấy, Mạnh Tử để tang mẹ, liền sử dụng nghi lễ của Khách khanh, ông còn để lại câu nói: “Mộc nhược dĩ mỹ nhiên”, nghĩa là “quan tài dường như quá đẹp”. Mạnh Tử quay về nước Lỗ để tang mẹ ba năm, sau đó quay trở lại nước Tề, nhưng không bao lâu cũng rời khỏi Tắc Hạ học cung.

Nguyên nhân chủ yếu khiến ông rời đi là vì: Vào giai đoạn trị vì cuối cùng của Tề Uy Vương, Điền Kỵ tướng quân và tể tướng Trâu Kỵ bất hòa, trong nước xuất hiện chiến loạn, Tắc Hạ học cung suy yếu một thời gian. Cộng thêm Mạnh Tử nghe nói Tống Khang Vương sắp thực hiện chính sách vương đạo, ông liền từ biệt nước Tề để đi đến nước Tống với một chút tiếc nuối trong lòng, tạm thời rời xa Tắc Hạ. Lúc từ biệt, Tề Uy Vương muốn tặng ông 100 dật vàng (1 dật = 20 lạng), nhưng Mạnh Tử đã cương quyết từ chối. Ông cho rằng bản thân không có cống hiến gì cho nước Tề, nếu như nhận vàng của Tề Uy Vương cũng giống như nhận hối lộ, trái với “đạo nghĩa” trong lòng ông
(Vương đạo nghĩa là phương pháp thống trị bằng nhân nghĩa và đạo đức, trái ngược với bá đạo, bá đạo là chính sách cai trị thiên hạ bằng quyền thế, vũ lực và pháp luật).

Mạnh Tử lần thứ hai vào Tề quốc, được tôn kính hết mực

Rời khỏi nước Tề, nhà triết gia Nho giáo đức cao vọng trọng này lại tiếp tục đi ngao du các nước, Mạnh Tử đi qua các nước chư hầu: Tống, Trâu, Tiết, Đằng, Lỗ, Ngụy. Ông đi đến nước nào cũng được đãi ngộ rất tốt, tuy nhiên chủ trương của Mạnh Tử không thật sự thu hút được những kẻ cầm quyền đam mê chinh phạt và tranh bá, Mạnh Tử trải qua mấy năm như vậy. Khi Tề Tuyên Vương lên ngôi, ông xem trọng Tắc Hạ học cung hơn cha mình, vì vậy mà học cung cũng nhanh chóng khôi phục lại trạng thái hưng thịnh của năm xưa. Lúc này Mạnh Tử bắt đầu thắp lên hy vọng với nước Tề. Dù sao trong thời đại tư tưởng hỗn tạp này, người nào có thể trở thành người dẫn đầu của Tắc Hạ học cung, bất luận là chính nhân tâm (đoan chính lòng người) hay là thi hành vương đạo thì đều có ý nghĩa to lớn không thể đo đếm.

Tranh minh họa Chung Ly Xuân gặp Tề Tuyên Vương trong “Liệt Nữ Truyện” của Lưu Hướng (ảnh: Phạm vi công cộng).

Tắc Hạ học cung là nơi ngọa hổ tàng long, tại nơi này, Mạnh Tử và nguyên lão Thuần Vu Khôn từng tiến hành một cuộc biện luận rất thú vị, không chỉ vậy, mà ông còn thường xuyên tranh luận sôi nổi với rất nhiều học giả thách đấu ông, đây chính là giai đoạn Mạnh Tử thể hiện được tư tưởng và tài hoa của mình. Ví dụ như một học sĩ trong Tắc Hạ tên Cáo Tử đề xuất quan niệm nhân tính “nhân tính vô thiện vô bất thiện”, quan niệm này cho rằng thuộc tính tự nhiên của con người không bao gồm ý nghĩa đạo đức, bản chất con người không thiện mà cũng không phải bất thiện, sự thiện ác của con người là do đời sống thói quen hình thành. Quan niệm này đối lập căn bẳn với học thuyết tính thiện của Mạnh Tử, học thuyết tính thiện của Mạnh Tử cho rằng bản tính của con người là lương thiện, không có sự bất thiện. Trong cuốn “Mạnh Tử” có nói rằng Mạnh Tử và Cáo Tử đã có rất nhiều cuộc biện luận xoay quanh vấn đề nhân tính (bản chất chung của con người).

Có một lần, Cáo Tử lấy nước để ví bản tính con người, đầu tiên nói rằng: “Bản tính con người giống như dòng nước chảy siết, phía đông vỡ đê, nước chảy về phía đông; phía tây vỡ đê, nước chảy về phía tây. Nhân tính không thể nói là thiện hay bất thiện, cũng giống như dòng nước không phân biệt mà chảy về đông, chảy về tây”. Mạnh Tử phản bác nói: “Chẳng lẽ nước cũng không phân biệt là chảy lên trên hay chảy xuống dưới sao? Nhân tính hướng thiện, cũng giống như nước chảy về chỗ thấp vậy. Nhân tính không thể có bất thiện, cũng giống như nước không thể không chảy về chỗ thấp”.

Luận chứng của Mạnh Tử vô cùng toàn diện. Ông còn chỉ ra rằng nước cũng sẽ bắn tung tóe khi bị vỗ đập, cũng sẽ trôi ngược dòng khi chịu áp lực, nhưng những điều này đều là do tình thế ép buộc. Cũng giống như con người bị ép phải làm chuyện xấu vậy, sự chuyển biến của nhân tính cũng giống như vậy. Một luận điểm lấy nước làm ví dụ đã thể hiện hết phong độ hùng biện của Mạnh Tử. Ông thuận theo logic của đối thủ để đi sâu vào thảo luận, chỉ một câu nói đã nói trúng bản chất của nước, đồng thời biết trước những nghi vấn mà đối thủ sẽ đưa ra, thiếp lập tình huống đặc biệt cộng thêm luận chứng, từ đó làm cho luận điểm của mình vô cùng vững chắc, không thể nào bị phản bác.

[Còn tiếp…]

Theo Epoch Times
Châu Yến biên dịch