Lời toà soạn: Lịch sử 5000 năm văn minh, văn hoá của Á Đông hào hùng, tràn đầy khí chất, là cả một kho tàng vô giá cho hậu thế. Chúng tôi tiến hành loạt bài về 24 nhân vật anh hùng thiên cổ (“Thiên cổ anh hùng”) ngõ hầu phục hưng tinh hoa văn hoá truyền thống cũng như những giá trị đạo đức quý báu của người Á Đông.

Có thơ rằng:
Núi thẳm Tam Phong xưng Đạo hiệu
Rừng sâu lữ khách gặp Chân nhân
Một lòng cầu Đạo tâm như ngọc
Tu luyện hồi thiên thoát bụi trần…

[Trích thơ: Vô danh cư sỹ]

Trương Tam Phong đi về phía nam không thu được kết quả, ông đi về phía tây, qua Tây Nhạc là Hoa Sơn để đến Bảo Kê. Ông thấy đất, núi, đầm nơi đây rất thanh tao ưu nhã, rừng tùng xanh mát, cảnh sắc yên bình, chính là một nơi rất tốt để tĩnh tu vậy. Thế là Trương Tam Phong thuận duyên mà ‘kết lều nghỉ chân’.

Lấy hiệu Tam Phong

Lại nói, Trương Tam Phong thấy trong núi có 3 đỉnh núi dốc và nhọn, khí tốt thông thiên, bởi vậy mà bèn lấy hiệu cho mình là ‘Tam Phong’, sửa lại tên thành ‘Toàn Nhất’ với ý nghĩa là ‘từ đất (quẻ Khôn) mà dựng một cột khí to lớn’. Trương Tam Phong từng có mấy danh hiệu. Trong “Trương Tam Phong toàn tập” viết rằng:

“Trương Tam Phong thường tự nói rằng: danh hiệu của ta, phần nhiều giống bậc cổ kim, biết rồi liền đổi, thế thì tâm an, cho nên nhẹ nhàng phiêu đãng. Một tên là Thông, giống như con trai tổ tiên xa xôi; một tên là Kim, giống với nhánh Đại Tư Mã triều Hán, đều thấy trong ‘Lưu hầu thế gia’.

Một tên là Tư Liêm, giống ngọc vuông nhà Nguyên; một tên là Huyền Tố, giống như ‘quan can gián’ thời Đường Thái Tông; một tên là Huyền Hoá, giống đệ tử của Cát Huyền. Vì trong hai chữ của tên, phải lấy một chữ, nên thành Huyền Huyền Tử. Lại giống với Thánh hiệu của Thái Thượng, nên đổi thành Sơn Phong. Lại giống với Phác Dương Tử, lại thay đổi thành Tam Phong. 

Nhưng từ chữ ‘Tam Phong’, truyền được đã lâu, không muốn thay đổi, bởi quẻ Càn (☰) là 3 hào dương liền mạch, còn quẻ Khôn (☷) bị đứt đoạn nên không còn thuần nữa. Từ đoạn đứt quẻ Khôn có một cột khí thông thẳng lên Trời, khiến 2 đoạn đứt hào Âm thành chữ Nhất (一). Từ đó tới nay, ta lấy tên Toàn Nhất, tự là Tam Phong. 

Dung mạo ta thô lậu hoang dã, không chú trọng ăn mặc, cho nên người đời gọi ta là Trương Lạp Tháp (Lạp tháp – 邋遢: lếch thếch). Ta là ‘thiên cổ dị nhân’, là độc nhất vô nhị”.

Tượng Trương Tam Phong trên núi Võ Đang (Nguồn: Wikipedia)

Núi Chung Nam gặp được minh sư

Năm đầu niên hiệu Diên Hỗ đời vua Nguyên Nhân Tông (năm 1314), Trương Tam Phong đã 67 tuổi, trải qua 30 năm tầm sư hỏi Đạo nhưng không thấy, thân thể dần dần suy lão, giữa càn khôn rộng lớn, nơi nào có Đại Đạo? Hơn 30 năm bôn ba nơi ‘danh sơn, rừng rậm’, 10 vạn vàng kim đã tiêu hết, muôn ngàn gian khổ, ‘áo rách, giày nát, minh sư chẳng thấy’.

Trương Tam Phong đốt hương cầu Thần khai thị, Thần mách bảo ông hãy đến Chung Nam Sơn tìm kiếm. Trương Tam Phong theo lời Thần, ông leo lên Chung Nam Sơn, phát hiện Hoả Long Chân Nhân đang đợi ông. Trương Tam Phong cảm xúc lẫn lộn, tương kiến sao quá muộn màng! Trong “Tiểu lư đề bích”, Trương Tam Phong viết:

Dưới núi Trần Thương dựng nếp nhà
Không trồng dâu cũng chẳng trồng đay
Mai danh ẩn tích nơi hẻo lánh
Tự cung tự cấp kế sinh nhai


Mấy hòn đá lớn chắn như hổ
Một mái nhà con nhỏ tựa sên
Thân thể tráng niên nay già lão
Vòm trời rộng lớn, thuốc Tiên đâu?

Trong “Thư Hoài” (bao thư), Trương Tam Phong viết:

Tâm mệnh lo lắng thật đáng phiền
Phong sương vùi dập tuổi tráng niên
Không thoát cõi trần thành ma quỷ
Mây núi nơi nào gặp chân Tiên


‘Cửu tử’ nguy nan bền lực Đạo 
‘Ba đời’ e sợ lạc trần duyên
Khói hương dẫn lối Chung Nam tiến
Gặp đúng Chân nhân toạ chốn này. 

Trong “Chung Nam hiện ra Hoả Long tiên sinh”, Trương Tam Phong viết:

Mây trắng khói xanh cảnh hư vô
Đến chỗ Tiên nhân tống ngọc hồ (1)
Giày cỏ hao mòn tìm Địa Phế (2)
Ngước trông Đại Đạo ở Đô Thiên.

Càn khôn vốn dĩ ‘lưu đan thất’ (3)
Hai vầng nhật nguyệt tựa lửa than
Tương kiến tiên sinh cơ duyên muộn
Mở lòng từ bi độ bần (4) Nho. 

Bản đồ núi Chung Nam Sơn (Nguồn: Wikipedia)

Hoả Long Chân Nhân ẩn thân nơi Chung Nam Sơn, cũng ẩn cả họ – tên, không ai biết lai lịch sinh thời của ông. Trong “Thần Tiên giám” (Gương/Kính Thần Tiên) ghi lại: ông có vẻ ngoài uy nghi, thế nhân chỉ biết ông là cổ Tiên. Hoả Long Chân Nhân lưu lại bài ‘tuyệt cú’ (thơ 4 câu) nói rằng ông đến thế gian chỉ vì độ Trương Tam Phong. Trong “Trương Tam Phong toàn tập – Thi đàm” có ghi lại việc Hoả Long tiên sinh “Ngẫu ngâm” (tình cờ ngâm) một thi phẩm như sau:

Đạo hiệu trùng với Trịnh Hoả Long
Họ tên ẩn tại chốn hư không
Từ khi độ được Tam Phong ấy
Về lại Bồng Lai nước mênh mông.

5. Cưỡi hạc bay lượn trời xanh

Người mà Hoả Long Chân Nhân chờ đợi đã đến. Ông hết lòng dẫn dắt, truyền ‘chân cơ’, ‘mật quyết’ (phép thuật bí mật) cho Trương Tam Phong, gọi là ‘khẩu truyền tâm thụ’.

Sau 4 năm, Hoả Long Chân Nhân lại truyền cho Trương Tam Phong phép ‘Đan sa điểm hoá’, cho phép ông xuất sơn (xuống núi) tu luyện. Trương Tam Phong rơi lệ tạ từ ân sư. Ông ‘xuống núi tìm đồng đạo trợ giúp luyện công’, lẫn vào người thế tục trong vài năm. Mùa xuân năm Giáp Tý niên hiệu Thái Định (năm 1324), Trương Tam Phong đi về nam đến núi Võ Đang, tu luyện 9 năm cuối cùng cũng đã thành Đại Đạo. Khi ấy Trương Tam Phong đã gần 90 tuổi.

Kể từ độ ấy, Trương Tam Phong ngao du thoắt ẩn thoắt hiện giữa nơi phong vũ. Ấy chính là: ‘Cưỡi hạc lượn bay trời xanh rộng, thương hải tang điền bỏ phía sau’ (Trích Lời tựa “Huyền yếu thiên”).

Trong “Bài thơ thứ hai lúc rời Chung Nam” viết rằng: 

Bình sinh muốn gặp được Tiên ông
Mười vạn vàng kim đã tiêu xong
Cảm tạ ân sư truyền diệu thuật
Xuất sơn tìm bạn giúp luyện công

Áo tơi nón lá rời Chung Nam
Mây trắng núi xanh vạn tượng lành
Ngày kia luyện đan đắc thành tựu
Về lại Tiên am bái ân sư.

Trong bài “Trên núi Thái Hoà làm hai khổ tuyệt cú” viết rằng: 

Bài thứ nhất:

Trên núi Thái Hoà mây làm tổ
‘Diện bích’ (5) thâm sâu giống Đạt Ma
Ngày nay thành Đạo, đàm việc lớn
Cần bỏ công phu, phó xuất nhiều.

Bài thứ hai:

Chín năm ròng rã tâm chuyên chú
Tĩnh mịch hư không chẳng nói năng
Thiên hạ có ai so bì được
Nắm vững thuật đan quyết một lòng. 

Trong Lời mở đầu của “Huyền yếu thiên” viết rằng:

Huyền Tố (Trương Tam Phong) than rằng, đời người hữu hạn, phú quý vô thường, giống như ‘đèn trước gió’, ‘cỏ dưới sương’, lúc còn lúc mất. Từ xưa đến nay đều là như vậy khiến ta thật sự chấn động. Vì thế ngày đêm ta mong ngóng Đại Đạo, vứt bỏ công danh, đoạn dứt lợi ích, vân du Hồ Hải, tìm kiếm danh sư. Nhưng điều được dạy đa phần là tiểu Pháp tiểu Đạo, thực hành không có chỗ hữu ích. Ta xem qua các kinh luyện đan, đều thấy không thích hợp.

Tuy trải qua gian khổ nhưng trong lòng sợ hãi vì không gặp được người để thoả chí bình sinh. Những năm Diên Hựu, Trời xanh thương ta, lần đầu đến Chung Nam, gặp được Hoả Long tiên sinh. Hoả Long tiên sinh ‘Tiên phong Đạo cốt’ tóc đen nhánh, mặt hồng hào, đời người trải qua bao năm không biết gặp được mấy lần. 

Ta bái ông làm thầy, quỳ gối vấn Đạo. Sư phụ từ bi chứng giám lòng thành của ta. Ngài chỉ ta, đầu tiên luyện công phu, kế đến truyền khẩu quyết luyện đan dược, kế đến điều chỉnh lửa nhỏ to… Đây gọi là ‘khẩu truyền tâm thụ’. Được nghe Đạo này, còn gì hạnh phúc bằng.

Tháng Mười, công luyện thành, hiển tướng Thánh nhân, chín năm diện bích, hợp với chân Đạo, ‘Cưỡi hạc lượn bay trời xanh rộng, thương hải tang điền bỏ phía sau’, đại trượng phu đã công thành danh toại…”.

Chú thích:

(1) Tống ngọc hồ: đưa hồ lô bằng ngọc.
(2) Địa Phế: tên một ngọn núi.
(3) Lưu đan thất: nơi chứa đan.
(4) Bần: nghĩa gốc là nghèo, ở đây chỉ khiêm nhường. Ví dụ: bần tăng, bần đạo…
(5) Diện bích: quay mặt vào vách. Năm xưa Đạt Ma quay mặt vào vách 9 năm, khiến bóng in cả lên vách đá.

Theo Epoch Times
Mạn Vũ biên dịch

Có thể bạn quan tâm:

videoinfo__video3.daikynguyen.tv||f42ec5769__

Ad will display in 09 seconds