Ngựa Mông Cổ có khả năng chịu đựng rất cao, rất thích hợp đi xa đánh trận và trên đường đi không cần uống nước. Một con ngựa Mông Cổ trưởng thành có thể đi khoảng 50 đến 100km trong một ngày, có thể kéo vật nặng khoảng 500kg. Một con ngựa Mông Cổ chuyên dùng để truyền gửi tin tức chiến sự có thể chạy liên tục hơn mười giờ đồng hồ, một ngày đi khoảng 240km.

Năm 1026, Thiết Mộc Chân thống nhất các bộ lạc ở Mông Cổ, tại đầu nguồn sông Oát Nan (sông Onon ngày nay) mở đại hội Hốt lý lặc thai, được bầu làm Đại hãn của Mông Cổ, hiệu “Thành Cát Tư Hãn”, quốc hiệu là “Đại Mông Cổ Quốc”.

Trải qua ba lần xâm lược Châu Âu, đế quốc Mông Cổ trở thành đế quốc lớn nhất trong lịch sử thế giới, phía bắc kéo dài đến Bắc Băng Dương, phía nam đến vịnh Ba Tư, phía đông kéo dài đến bán đảo Triều Tiên, phía tây kéo dài đến Hungary. Vào thời kỳ hưng thịnh, tổng diện tích của Mông Cổ đạt đến hơn 24 triệu km vuông và cai trị hơn 100 triệu dân.

Kỵ binh Mông Cổ và ngựa Mông Cổ dưới ngòi bút của họa sĩ A Phu Hãn. (Hình ảnh: ayf al-Vâhidî. Hérât vẽ năm 1430, để trong thư viện quốc gia nước Pháp)

Trong thời đại chỉ có gươm đao chém giết, các chiến sĩ Mông Cổ giỏi cưỡi ngựa bắn cung liên tục chinh chiến không ngừng, người bạn thân thiết nhất luôn ngày đêm bên cạnh họ đương nhiên là con chiến mã của họ, tức ngựa Mông Cổ. Lịch sử của giống ngựa Mông Cổ cũng giống như dân tộc Mông Cổ cổ xưa, đều chứa đầy những điều thần bí. Ngựa Mông Cổ là một trong những giống ngựa cổ nhất trên thế giới. Vào thế kỷ thứ 3 TCN, dân tộc du mục người Hung Nô sống trên thảo nguyên đã bắt đầu huấn luyện ngựa Mông Cổ trở thành chiến mã.

Đặc điểm của ngựa Mông Cổ

Vóc dáng của ngựa Mông Cổ không lớn, chiều cao trung bình của chúng chỉ từ 120 – 135cm, thể trọng từ 267 – 370kg. So với giống ngựa Châu Âu thì ngựa Mông Cổ được xem là giống ngựa loại nhỏ. Tuy thân hình của chúng không to bằng ngựa Châu Âu, nhưng thân của ngựa Mông Cổ rất thô và khỏe, tứ chi khỏe mạnh, cơ gân phát triển, linh hoạt nhanh nhạy. Sử thi anh hùng “Giang Cách Nhĩ” nổi tiếng của dân tộc Mông Cổ miêu tả ngựa Mông Cổ như sau: “Nhanh như mũi tên bắn khỏi dây cung, khí thế hoành tráng như pháo hoa rực sáng”.

Kỵ binh của nhà Thanh – Trung Quốc cưỡi ngựa Mông Cổ (Hình ảnh: Tranh của Lang Thế Ninh đời nhà Thanh, viện bảo tàng Cố Cung sưu tầm)

Ngựa Mông Cổ có khả năng chịu đựng rất cao, rất thích hợp đi xa đánh trận và trên đường đi không cần uống nước. Một con ngựa Mông Cổ trưởng thành có thể đi khoảng 50 đến 100km trong một ngày, có thể kéo vật nặng khoảng 500kg. Một con ngựa Mông Cổ chuyên dùng để truyền gửi tin tức chiến sự có thể chạy liên tục hơn mười giờ đồng hồ, một ngày đi khoảng 240km. Những con ngựa Mông Cổ được chăm sóc tốt có thể hành quân hơn mười ngày mà không cần ăn cỏ. Điều này đã giúp cho quân Mông Cổ có được sự đảm bảo khi chinh chiến nơi cao nguyên hoang mạc hay tung hoành lãnh thổ Châu Âu.

Ngựa Mông Cổ xuất hiện đầu tiên ở trên các vùng núi cao lạnh giá bên ngoài Vạn Lý Trường Thành, nên có thể thích ứng với khí hậu và điều kiện sống khắc nghiệt. Chúng có thể chịu được nhiệt độ nắng nóng 40°C và nhiệt độ lạnh giá âm 40°C, trong mưa bão gió tuyết hay dưới mặt trời nóng bức chúng đều có thể thích ứng. Trong mọi loại địa hình, ngựa Mông Cổ đều có thể phi như bay, đi lại thuận tiện.

Ngựa Mông Cổ trong tuyết (Ảnh: Pikist)

Trên chiến trường có muôn vàn biến hóa khôn lường, chiến mã chính là một vệ sĩ sát cánh cùng chiến binh, cũng cần phải có sự phối hợp tuyệt vời với chủ nhân của chúng, nếu không chỉ cần một chút bất cẩn là cũng có thể nguy hiểm đến tính mạng. Ngựa Mông Cổ có tính linh hoạt cực kỳ phi thường và trí nhớ của chúng cũng rất đáng kinh ngạc, kết hợp cùng kỵ sĩ Mông Cổ có tài bắn cung siêu phàm, quả thật là “ngựa phi như rồng, tên như sét đánh”.

Phương pháp nuôi ngựa

Người Mông Cổ yêu ngựa, đặc biệt là đối với chiến mã lại càng yêu quý. Thành Cát Tư Hãn rất xem trọng chiến mã, luôn sai người đi tìm một đồng cỏ tốt để thuận tiện cho chiến mã sau mỗi lần kết thúc chinh chiến đều có thể ăn thỏa thích cỏ non xanh mướt, được uống nước sạch. Ông còn quy định trong thời gian này không được cưỡi chiến mã.

Trong “Hắc Thát Sự Lược” có ghi chép: “Cách nuôi ngựa của người Thát Đát, từ đầu xuân sau khi bãi binh, phàm là ngựa tốt ra trận, đều được tự do uống nước ăn cỏ, không được cưỡi chúng. Cho đến khi gió tây nổi lên, không cho làm gì cả, buộc chúng xung quanh lều trại, cho ăn ít cỏ uống ít nước. Một tháng sau, to béo mà chắc khỏe, cưỡi đi mấy trăm dặm, tự nhiên không có mồ hôi, nên có thể đi đánh trận nơi xa. Khi đi trên đường bằng phẳng bình thường, không cho chúng uống nước ăn cỏ. Uống nước ăn cỏ trong gian nan khắc khổ không béo được mà lại sinh bệnh. Đây là cách nuôi ngựa”.

Người Mông Cổ yêu ngựa, ngựa cũng là một trong những vật tổ của người Mông Cổ. Thành Cát Tư Hãn phong cho bốn vị tướng tài của mình gồm Mộc Hoa Lê, Xích Lão Ôn, Bác Nhĩ Thuật, Bác Nhĩ Hốt danh hiệu “tứ tuấn” (còn gọi là tứ kiệt, tứ mã). Vì vậy cũng có thể thấy được rằng ngựa có một địa vị rất cao trong văn hóa của người Mông Cổ.

Ngựa Mông Cổ dũng mãnh tinh nhuệ, bền bỉ kiên cường, không chỉ là người bạn tốt của các kỵ sĩ Mông Cổ, còn là phương tiện vận chuyển lương thực cho đại quân Mông Cổ đi chinh chiến nơi xa, làm nhiệm vụ truyền gửi tin tức, và có công rất lớn trong cuộc chiến càn quét lãnh thổ Châu Âu.

Theo Sound Of Hope
Châu Yến biên dịch